Một phần tư vành mũ rơm bị xé rách và trận địa pháo thông đường ngày hai mươi ba tháng Sáu
Một phần tư vành mũ rơm bị xé rách và trận địa pháo thông đường ngày hai mươi ba tháng Sáu
Bạn có chịu nổi cái nóng như đổ lửa của mùa hè miền Trung vào tháng Sáu, khi dòng sông Lam cạn trơ đá sỏi và bầu trời bị băm nát bởi những trận oanh tạc tàn khốc của máy bay Mỹ? Nếu câu trả lời là không, thì hãy cúi đầu trước cái chết của anh vào ngày 23 tháng 6 năm 1967. Hạ sĩ, Chiến sĩ Trương Thế Thụ đã ngã xuống giữa tọa độ lửa khi vừa tròn 22 tuổi. Anh ra đi khi cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ bước vào giai đoạn leo thang tột đỉnh tàn bạo ở khu vực Quân khu 4. Ở cái tuổi đẹp nhất của đời người, anh đã chọn dùng thân mình bám trụ mâm pháo, đổi lấy sự thông suốt cho những chuyến hàng chi viện xẻ dọc Trường Sơn tiến vào Nam.
Là một người trẻ đang dấn thân vào hành trình của cuộc thi "Cuộc chiến thời hoa lửa", tôi đã bị quật ngã hoàn toàn trước tập hồ sơ lưu trữ ố vàng về anh. Những lời kể bằng giọng nấc nghẹn nhưng đầy hào sảng của thế hệ cựu binh đi trước tại xã Nghĩa Bình (Tân Kỳ, Nghệ An) đã lột phăng cái vỏ bọc yên bình của thế hệ Gen Z chúng tôi, ném chúng tôi vào một thực tại đầy máu, lửa nhưng bất tử.
Năm 1967, mảnh đất Nghệ An vừa là hậu phương trực tiếp, vừa là tiền tuyến hướng chịu những đòn đánh phá hủy diệt của không quân Mỹ. Đơn vị C14, D15KT nơi anh Trương Thế Thụ (sinh năm 1945) chiến đấu là một trong những đơn vị phòng không kiên cường, giữ trọng trách bảo vệ các cửa ngõ giao thông chiến lược. Mùa hè năm ấy, nắng gió Lào thổi quật quật như thiêu như đốt hòa cùng mùi thuốc súng khét lẹt. Mặt đất Tân Kỳ, Nghĩa Bình luôn rung chuyển, bom chồng lên bom, đêm cũng như ngày không một phút ngơi tiếng súng.
Là một người lính trẻ tuổi 22 đầy nhiệt huyết, anh Thụ luôn có mặt ở những vị trí nguy hiểm nhất trên trận địa, nếm miếng cơm chan đầy cát bụi chiến hào để giữ cho nòng pháo luôn hướng thẳng lên trời xanh.
Chi tiết biểu tượng: Chiếc mũ rơm ngụy trang bị xé rách và nắm lá chè xanh Nghĩa Bình. Đồng đội cũ kể lại, ngày ấy ngụy trang chống máy bay Mỹ là cả một nghệ thuật sinh tử. Anh Thụ có một chiếc mũ rơm tự bện dày dặn, bên trên luôn gài những nhành lá chè xanh ngắt được người thân gửi từ vùng đồi Nghĩa Bình ra trận địa. Mỗi lần sau một đợt bom dội, anh lại lôi chiếc mũ sạm đen khói súng ra, quệt mồ hôi trên trán rồi cười bảo với anh em: "Lá chè quê mình dai sức lắm, bom Mỹ có dập cũng không héo được. Đánh tan bọn giặc Mỹ bảo vệ bằng được cung đường này, tao dắt tụi mày về Nghĩa Bình, uống bát nước chè xanh u nấu, sướng phải biết!". Chiếc mũ rơm đan xen sắc xanh của lá chè ấy chính là biểu tượng cho sức sống mãnh liệt, cho khát vọng hòa bình của chàng trai xứ Nghệ.
Nhưng bát nước chè xanh quê mẹ đã vĩnh viễn lỗi hẹn vào ngày 23 tháng 6 năm 1967.
Hôm đó, giặc Mỹ mở một trận oanh tạc dây chuyền kinh hoàng hòng cắt đứt hoàn toàn tuyến đường vận tải chiến lược qua địa bàn. Những tốp "thần sấm", "con ma" Mỹ lao xuống xối xả trút bom tọa độ. Trận địa bốc cháy ngùn ngụt, khói độc cuồn cuộn vây kín các công sự. Giữa lúc ấy, một quả bom rơi sát trận địa pháo khiến nhiều đồng đội bị thương, hỏa lực của ta có nguy cơ bị gián đoạn.
Không một giây do dự, Hạ sĩ Trương Thế Thụ ôm chặt khẩu súng phối thuộc, nhào người qua làn khói đạn, trám vào vị trí chiến đấu. Anh nghiến răng, hướng thẳng nòng súng vào chiếc phản lực đang lao xuống cắt bom. Một tiếng nổ xé lòng vang lên ngay trên đỉnh chiến hào. Một mảnh pháo tàn độc xé rách ngực áo anh, máu phun ra xối xả nhuộm đỏ màu đất cày.
Nhưng anh không gục xuống ngay. Bằng ý chí sắt đá, đôi tay đẫm máu của anh vẫn ghì chặt báng súng, trút những viên đạn cuối cùng vào đội hình giặc, tạo điều kiện cho đơn vị tổ chức đánh trả, bảo vệ an toàn cho đoàn xe chở hàng vượt qua tọa độ chết. Khi tiếng súng dứt, anh hi sinh trong tư thế hướng về phía trước. Chiếc mũ rơm bị mảnh bom xé rách một góc lớn lăn lóc bên cạnh, những nhành lá chè xanh Nghĩa Bình thấm máu anh, ngạo nghễ hòa vào lòng đất mẹ vào ngày 23/06/1967.
Cái chết ở tuổi 22 của Hạ sĩ Trương Thế Thụ là một cái tát thẳng vào sự an phận, lười nhác và những suy nghĩ thực dụng của một bộ phận người trẻ thời bình. Chúng ta hôm nay có quá nhiều định hướng, loay hoay với những vụn vặt cá nhân, trong khi thế hệ của anh Thụ ngày xưa đã ngẩng cao đầu đối mặt với tử thần, dùng cả cuộc đời để đổi lấy hai chữ độc lập.
Câu câu chuyện của anh không cần những lời khóc lóc bi lụy. Nó cần sự tiếp nối. Chiếc mũ rơm và nhành lá chè năm ấy của anh đã hóa thân thành màu xanh của tự do, của một đất nước hòa bình hôm nay.
Khi thế hệ đi trước đã dùng cả lồng ngực tuổi hai mươi hai để giữ vững trận địa cho đất nước thông đường, thì thế hệ đi sau không có quyền để bản thân sống một cuộc đời tắc nghẽn, vô cảm và cạn kiệt khát vọng.



