Một thời chiến sĩ
.
Ông Ngô Đăng Hậu, sinh ngày 13 tháng 9 năm 1954, quê quán tại Xuân Khuê, Lý Nhân, Hà Nam – nay thuộc xã Nhân Hà, tỉnh Ninh Bình. Hiện đang sinh sống tại tổ dân phố 10, phương Tân Phong. Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân giàu truyền thống yêu nước, cần cù lao động, gắn bó sâu nặng với quê hương làng xóm. Mảnh đất chiêm trũng ven sông với những cánh đồng lúa thẳng cánh cò bay đã nuôi dưỡng trong ông đức tính chịu thương chịu khó, tinh thần trách nhiệm và lòng yêu nước giản dị mà sâu sắc.
Tuổi thơ của ông Ngô Đăng Hậu gắn liền với những năm tháng đất nước còn chìm trong khói lửa chiến tranh. Khi ông lớn lên, nghe theo tiếng gọi của Đảng và Nhà nước ông đã lên đường nhập ngũ để hoàn thành lý tưởng sống cao đẹp: sẵn sàng lên đường bảo vệ Tổ quốc khi Tổ quốc cần.
Tháng 6 năm 1972, khi mới 18 tuổi, ông Ngô Đăng Hậu chính thức “nhập ngũ”, trở thành người lính Quân đội Nhân dân Việt Nam. Đây là thời điểm cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào giai đoạn ác liệt. Sau khi nhập ngũ, ông được đưa đi huấn luyện quân sự nghiêm ngặt, rèn luyện cả về thể lực, kỹ năng chiến đấu lẫn bản lĩnh chính trị. Những ngày huấn luyện gian khổ với hành quân dài ngày, vượt núi băng rừng, sinh hoạt trong điều kiện thiếu thốn đã tôi luyện cho ông ý chí kiên cường, tinh thần kỷ luật và tình đồng chí sâu nặng.
Hoàn thành khóa huấn luyện, ông được cấp trên phân công làm nhiệm vụ tại “chiến trường C”, làm nhiệm vụ quốc tế tại “Xiêng Khoảng (Lào)”. Đây là một địa bàn chiến lược quan trọng, nơi quân tình nguyện Việt Nam phối hợp cùng lực lượng bạn Lào chiến đấu chống lại các thế lực xâm lược, bảo vệ độc lập, chủ quyền của nước bạn, đồng thời góp phần bảo vệ tuyến hậu phương và an ninh khu vực.
Năm 1972, chiến tranh Lào tiếp diễn trong bối cảnh xung đột khu vực Đông Dương leo thang giữa các lực lượng: Quân Giải phóng nhân dân Lào phối hợp với Quân đội Nhân dân Việt Nam, đối đầu Chính quyền Hoàng gia Lào và lực lượng ủng hộ do Mỹ – Thái Lan hỗ trợ.
Xiêng Khoảng— đặc biệt là Cánh Đồng Chum — là khu vực chiến lược quan trọng nằm ở Bắc Lào, ảnh hưởng trực tiếp tới tuyến đường chiến lược, căn cứ quân sự và vùng giải phóng lớn của Lào. Đây là hướng chiến lược quan trọng có liên hệ với chiến trường Việt Nam.
Tại chiến trường Xiêng Khoảng, ông Hậu cùng đồng đội phải đối mặt với vô vàn khó khăn, gian khổ: địa hình rừng núi hiểm trở, khí hậu khắc nghiệt, thiếu thốn lương thực, thuốc men; đặc biệt là sự tàn phá nặng nề của bom đạn. Tuy vậy, với tinh thần quốc tế trong sáng, lòng dũng cảm và ý chí quyết tâm, ông luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, giữ vững phẩm chất cao đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”.
Mùa mưa năm 1972, Quân ủy Trung ương Việt Nam và Lào dự đoán địch sẽ tấn công nhằm chiếm lại khu vực chiến lược này. Do đó, hai bên thống nhất mở chiến dịch phòng ngự lớn.
Quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với Quân Giải phóng Nhân dân Lào đã kiên cường chống đỡ, phản công và tiêu diệt nhiều đơn vị địch, buộc chúng phải rút lui khỏi khu vực phía Nam Cánh Đồng Chum và về phía Long Cheng (Luang Prabang). Ông đã được tham gia vào cuộc chiến dịch kết thúc ngày 15/11/1972, Liên quân Việt – Lào giữ vững khu vực chiến lược, không để địch chiếm lại. Cuộc chiến nổ ra những quả bom, đạn của hai bên đối địch với vô số người chết và bị thương. Quân địch nhiều tấn công nhưng liên quân Việt – Lào vẫn giữ vững tinh thần và cuối cùng cũng giành chiến thắng. Liên quân Việt – Lào không quan tâm đến màu áo, đã ôm lấy nhau vui vì đã chiến thắng, một phần nữa vui vì mình còn sống, còn phục vụ được đất nước.
Sau cuộc chiến tranh kết thức ông và các đồng đội tình nguyện của Việt Nam được quân đội Lào đưa về để tiếp tục chờ đợi sự giao phó tiếp của đất nước.
Những năm tháng trên đất bạn Lào đã để lại trong ông nhiều kỷ niệm sâu sắc không thể nào quên: tình cảm gắn bó keo sơn giữa quân tình nguyện Việt Nam và nhân dân Lào; tình đồng đội sống chết có nhau giữa làn ranh sinh tử; và niềm tin son sắt vào lý tưởng cách mạng. Đó là quãng thời gian đã hun đúc nên bản lĩnh, nhân cách và tầm vóc tinh thần của ông suốt cả cuộc đời sau này.
Sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự và trở về địa phương, ông Ngô Đăng Hậu tiếp tục phát huy phẩm chất của người lính trong cuộc sống đời thường. Trở lại quê hương Xuân Khuê – Nhân Hà, ông tích cực lao động, xây dựng kinh tế gia đình, gương mẫu chấp hành chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, sống chan hòa với bà con lối xóm. Dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào, ông vẫn giữ lối sống giản dị, chân thành, cần mẫn và giàu trách nhiệm.
Đối với gia đình, ông là người chồng, người cha mẫu mực, luôn coi trọng giáo dục con cháu về truyền thống yêu nước, lòng biết ơn các thế hệ đi trước và ý thức sống có trách nhiệm với cộng đồng. Với quê hương, ông là tấm gương tiêu biểu của thế hệ thanh niên thời chiến – những con người đã sẵn sàng gác lại tuổi trẻ, hy sinh lợi ích cá nhân để góp phần làm nên hòa bình, độc lập cho Tổ quốc và vun đắp tình đoàn kết hữu nghị Việt Nam – Lào.
Cuộc đời và những đóng góp của ông Ngô Đăng Hậu là minh chứng sinh động cho tinh thần yêu nước, ý chí kiên cường và phẩm chất cao đẹp của người lính Quân đội Nhân dân Việt Nam – những giá trị đáng trân trọng và cần được gìn giữ, truyền lại cho các thế hệ mai sau.


