Bài viết

MỘT THỜI HOA LỬA (3)

Hưng Yên28/01/2026thanh tung (phường trà lý)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

4. VỀ C17

Áp tết âm lịch năm 1972, sau 3 tháng vượt Trường Sơn đầy gian khổ, hiểm nguy, chúng tôi đã tới điểm dừng chân cuối cùng là Binh trạm T3, ngay khu vực ngã ba Đông Dương. Sau một ngày nghỉ ngơi chờ đợi, chín đứa chúng tôi là Nguyễn Văn Hiệp, Hoàng Văn Thuật, Bùi Nguyên Văn, Nông Văn Bối, Nông Văn Bách, Đàm Văn Lộc, Hoàng Văn Thông, Đàm Côn và Nguyễn Việt Phát được chọn bổ sung về đại đội trinh sát C17, Trung đoàn 40 pháo binh, trực thuộc Bộ Tư lệnh B3,Tây Nguyên. Phần lớn số còn lại của C3 và cả Tiểu đoàn 33 huấn luyện, được bổ sung về các tiểu đoàn pháo binh mặt đất và pháo phòng khôngcủa E40.

Trên đường về đơn vị mới, chúng tôi băng qua một nương sắn, mọi người mừng rỡ nhổ sắn bóc ăn ngấu nghiến, vì 3 tháng hành quân hầu như đã vắt kiệt sức lực của chúng tôi. Anh Thiều Đình Bảy quê Thanh Hóa, người đại diện đơn vị mới ra nhận quân, nhắc chúng tôi kỷ luật hành quân và khuyên không nên ăn quá nhiều sắn sống dễ bị say.

Hậu cứ đầu tiên của C17 nằm trên địa bàn bản Tà Cơi, thuộc huyện 40, tỉnh Kon Tum, gần Binh trạm T3. Doanh trại của đơn vị là những căn nhà nửa chìm nửa nổi, lợp mái lồ ô, đắp ụ đất xung quanh, nằm dưới tán rừng già kín đáo, chim, sóc, kỳ lân, gà rừng nhảy nhót, gáy hót suốt ngày. Thú rừng nơi đây nhiều đến nỗi lợn rừng vào giao phối với lợn nhà đẻ ra những chú heo con với những vệt dọc dưa trông thật ngộ nghĩnh. Trước mặt đơn vị làcon suối nhỏ len lỏi chảy qua cánh rừng lồ ô rậm rì, bên kia suối là vườn rau tăng gia đủ loại nhưng nhiều nhất là rau dền, rau muống và củ cải. Sau lưng đơn vị không xa là gần một trăm ha rẫy lúa, ngô, sắn và đậu mắt cua, mảnh nhỏ nhất cũng vài ba ha, là nguồn cung cấp chủ yếu lương thực cho đơn vị trong rất năm đánh Mỹ. Sau năm 1969, chính trường Căm Pu Chia biến động, bọn Lon lon, Xi Rích, Ma Tắc làm đảo chính khiến ta gặp khó khăn tiếp tế, trên chủ trương cho bộ đội ra Quảng Bình an dưỡng, nhưng Bộ Tư lệnh B3 xin được ở lại, vừa tăng gia vừa đánh giặc, từ đó mới xuất hiện các nương lúa, nương săn bạt ngàn giữa vùng hậu cứ.

Đại đội trinh sát C17 được thành lập ngày 5 tháng 2 năm 1967, cùng thời điểm thành lập E40 pháo binh, trung đoàn pháo binh đầu tiên của Tây Nguyên(nằm trên địa bàn huyện 40, Kon Tum). Trung đoàn trưởng đầu tiên là đồng chí Nguyễn Xuân Giá, đồng chí Phạm Việt Thọ là Chính ủy. Thời kỳ đầu, Trung đoàn có 4 tiểu đoàn: 30,31,32,34 với trang bị chủ yếu là pháo ĐKB, ĐKZ, cối 120, 82 và cao xạ 12,7 ly.

Ngay sau khi thành lập, các tiểu đoàn 30,31,32 đã chi viện bộ binh tiến công lữ dù 2 của Mỹ tại Sùng Lễ, Sùng Thiện đến Đức Cơ, Gia Lai. Sau đó Trung đoàn tiếp nhận thêm tiểu đoàn pháo 33 ĐKB và liên tục tập kích địch từ Đắc Tô, Tân Cảnh đến Play Cu. Tháng 4 năm 1968, trung đoàn 40 được tăng cường tới 10 tiểu đoàn, trong đó có 4 tiểu đoàn ĐKB, ĐKZ, Cối 120, 82 ly; 2 tiểu đoàn pháo 105,85 ly; 2 tiểu đoàn cao xạ 37 ly. 1 tiểu đoàn 12,7 ly và 1 tiểu đoàn xe tăng PT76.

Tháng 8 năm 1968, đồng chí Tô Thuận được giao làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn pháo 40. Trung đoàn chia làm hai cánh, cánh Bắc chiến đấu ở Kon Tum (Gồm các Tiểu đoàn 32,33,42,46,16). Cánh Nam gồm Tiểu đoàn 31,41,47 chiến đấu ở địa bàn Gia lai. Mùa khô năm 1968, Trung đoàn hỗ trợ bộ binh E28 và E66 tiến công địch ở Play Cần, Ngọc Hồi, cao điểm 824…

Năm 1969, đồng chí Nguyễn Tiến Vinh làm Trung đoàn trưởng, đồng chí Bùi Tố Tọa làm Chính ủy. Thời kỳ này, Trung đoàn đánh địch ở Kleng, Chư Hinh, Ngok Tô Ba, Chư Rơ Ban, Plaay Cần…

Đầu năm 1970, Trung đoàn còn 4 tiểu đoàn (30,32,33,11) và 4 đại đội trực thuộc là Trinh sát, thông tin, công binh và quân y. Đồng chí Nguyễn Hữu Quỳnh là Trung đoàn trưởng và đồng chí Lê Đình Nguyên làm Chính ủy. Thời kỳ này Trung đoàn hỗ trợ E28 đánh Đắc Siêng, pháo kích Play Cần, Đắc Mót, Pô Cô Hạ.

Tháng 2 năm 1971, Trung đoàn hỗ trợ E66 đánh Ngọc Rinh Rua và bắn phá sân bay Đắc Tô. Bước sang năm 1972, Trung đoàn được bổ sung 1 đại đội súng cối 160 ly của Trung đoàn pháo binh 675, do đồng chí Nguyễn Hữu Vinh làm Trung đoàn trưởng và đồng chí Lại thế Cường làm Chính ủy. Lúc này Mặt trận Tây Nguyên đang chuẩn bị mở chiến dịch xuân hè 1972, phối hợp với mặt trận Quảng Trị đánh những đòn quyết định, buộc địch phải đi đến ký Hiệp định Pa Ri đầu năm 1973.

Với chức năng là đại đội chỉ huy, trực thuộc Trung đoàn, C17 trinh sátcó nhiệm vụ trinh sát, đo đạc xác định tọa độ, tính toán các phần tử bắn và lập các tổ đài quan sát để gọi, chỉnh pháo bắnvào các mục tiêu đã được cấp Trung đoàn xác định. C17 còn là nơi đào tạo, cung cấp nguồn cán bộ chỉ huy bắn cho các đơn vị pháo trong toàn Trung đoàn. Vì thế người ta thường xem họ như những đôi mắt của pháo binh. Nói là đại đội nhưng quân số chỉnăm sáu chục người, được chọn lọc khá kỹ và phiên chế thành hai trung đội trinh sát và kế toán. Kể từ ngày thành lập, C17 đã tham gia hầu hết các trận đánh lớn nhỏ do Trung đoàn chỉ huy cũng như phối thuộc cùng các tiểu đoàn pháo đánh đơn lẻ.

Khi chúng tôi được bổ sung vào C17 thì một thế hệ cán bộ trinh sát, kế toán lớp đầu tiên như Phạm Ngự, Phạm Đức Dân, Tào Minh Phúc, Hà Tắc, Nguyễn Thế Vĩ, Đoàn Dư Điềm, Nguyễn Lệ, Hoàng Thiêm…đã được tăng cường làm cán bộ cho các đơn vị trong Trung đoàn 40.

Đại đội trưởng C17 lúc đó là anh Nguyễn Văn Thụy, nhập ngũ từ 1964, giỏi chuyên môn, sống hòa đồng và phóng khoáng. Hồi năm 67, anh đã từng trèo lên cột cờ Hiền Lương gọi pháo bắn vào Cồn Tiên – Dốc Miếu. Năm 1970, vì thương lính đói quá, anh đã chỉ đạo giữ lại ít lúa đơn vị tăng gia được để cho quân cải thiện, không khai báo hết với cấp trên nên bị kỷ luật. Vì vậy anh em đơn vị thương và quý trọng anh nhiều lắm. Sau này về hưu, với quân hàm Đại tá, nhưng anh vẫn là một người anh cả đáng kính của cánh lính cựu C17 chúng tôi. Nhà tôi chỉ cách nhà anh vài trăm mét.

Đội ngũ cán bộ của C17 lúc bấy giờ còn có các anh Vũ Văn Muống, Chính trị viên trưởng,quê Gia Lộc, Hải Dương; anh Nguyễn Như Đới và anhBùi Minh Tâm là C phó. Cán bộ trung đội có Lê Việt Cườngquê Hà Tây, Nguyễn Văn Vạn, Vũ Văn Thục, Nguyễn Đức Tài, Hoàng Văn Sửu, Nguyễn Huy Phồn quê Hải Phòng… Tất cả họ đều là những trinh sát, kế toán pháo binh tài ba, gan dạ,đi B từ những năm 67- 68, đã trải qua nhiều trận đánh ác liệt và lập nhiều chiến công thầm lặng ở chiến trường Bắc Kon Tum, trong những ngày đánh Mỹ đầy gian khổ.

Lớp trinh sát, kế toán vào chiến trường năm 1970 cóLê Xuân Hạnh, Phạm Như Ý, Trịnh Bá Quyền, Trịnh Ngọc, Thiều Văn Thế, Khánh, Quý “xịt” quê Vĩnh Phú, Khánh “khoang” quê Hòa Bình; Nguyễn Văn Hùng, Nguyễn Hữu Điền, Lộc “than”, Thành “đen”, Thành “còm”, Trúc quê Hưng Yên; Hoan quê Hải Phòng…

Y tá đại đội có Phùng “khịt” vàLưu Thế Tấn, quê Hoài Đức, Hà Tây. Cấp dưỡng có Bách, Sơn;Tổ tăng gia có Đạt và Nhật… Mỗi người một tính, một quê nhưng gắn bó như anh em ruột thịt.

Chúng tôi về C17 được vài hôm là đón tết 1972, cái tết đầu tiên của đời lính trong chiến trường. Đêm 30, cả đại đội tập trung đón giao thừa tại hội trườngnửa chìm nửa nổi, có ngách dẫn vào các hầm chữ A, bàn ghế làm bằng lồ ô và cây rừng. Phía trên hội trường, dưới cờ giải phóng là ảnh Bác Hồ, chính giữa là cây hoa dân chủ, trong đó có những mảnh giấy nhỏ gấp kín với những nội dung yêu cầu người chơi phải thực hiện. Sau phát biểu của Chính trị viên trưởng Vũ Muống,cả đơn vị cùng hát bài ca ngợi truyền thống Trung đoàn 40 với ca từrất hùng tráng, tự hào:

Rầm rập bước chân / Trung đoàn ta đi mang khí phách của Điện Biên chiến thắng/Nơi đây núi rừng bao la / Sức mạnh quân ta như bão nổi Trường Sơn/ Mang truyền thống anh hùng vai sắt chân đồng / Trung đoàn 40 ra đi là lập chiến công/Cả dải đất Tây Nguyên kiên cường kiêu hãnh với chiến thắng lớn/Máu quân xâm lược nhuộm đỏ nước dòng Sa Thầy/Đắc Sút, Đắc Tô, Sùng Thiện, Sùng Lễ giặc Mỹ tan thây/ Bao căn cứ xác giặc chất đầy/Lô cốt tan và phi cơ cháy/lửa hờn căm đang sục sôi/ Đánh cho quân cước Mỹ tơi bời/Nòng pháo ta vươn cao giữa trời này.

Rộn ràng khắp nơi, dây đòn trên vai khiêng pháo không ngại vượt bao gian khó/ Quê hương vẫn còn khổ đau/bát gạo chung nhau ta quý từng hạt muối/Nghe lời Bác kêu gọi tha thiết trong lòng/Rau rừng sắn khoai nhưng ta lập nên chiến công/Ầm ầm pháo binh ta giăng thành lũy thép quyết chiến xốc tới/khép vây quân thù, bám trụ giữ cả đất trời/Áp sát tiến sâu quân giặc ở đâu là pháo ta đi/ Vai mang pháo ta vào công đồn/tim óc ta mở đường chiến thắng/ lịch sử ghi trang truyền thống/ đánh độc lập hay đánh hiệp đồng /cùng xây dựng Trung đoàn ta quyết thắng./.

Tiếp đó mọi người đề nghị Trung đội bậc trưởng Bùi Minh Tâm, biệt danh “ Tâm cối” (vì có tài đóng cối xay thóc), hát bài “Nhớ Bác trên đường ra trận” của Vũ Quý, một cán bộ tuyên văn E 40 sáng tác, với ca từ và giai điệu nhẹ nhàng, da diết: “ Đêm nay chúng con khênh pháo vào trận địa chiếm lĩnh/ Đường đi chiến dịch gian lao/ Nhớ lời Bác căn dặn ngày nào/ Gần thắng lợi càng nhiều gian lao/ Đường lên Chư Mom Ray gặp mây bay con nhớ tóc Bác/ Đường xuyên cắt rừng khuyê nhìn sao sáng thấy mắt Bác cười/ Bác Hồ ơi…Con biết Bác thương nhiều đàn con pháo thủ/ Dãi nắng dầm mưa đường chiến dịch còn xa/ Pháo nặng trĩu trên vai, pháo nặng trĩu trên vai/ Nhưng sao bằng gánh giang sơn ở trên vai Bác/ Con đường chúng ta đi, cho dù có gian nguy, sao bằng đường xa Bác Hồ đi/ Con cùng pháo đêm nay, trút lửa xuống đồn thù/ Chiến công này dâng Bác. Bác lại càng vui hơn….

Cánh lính quê Hưng Yên thì giới thiệu Lộc “than” hát bài ca ngợi cánh đồng đay của quê mình trong đó có đoạn “ Cánh đồng đay không cánh mà bay/bay từ quê ta mà bay ra các nước/đến khi về kìa đay mang được/biết bao là máy móc vải tơ…”, chất giọng của Lộc khá mượt mà nhưng không dấu nổi cái tật ngọng cố hữu của vùng lúa Bắc bộ. Bùi Nguyên Văn quê Cao Bằng xung phong hát bài Chiến sĩ Việt Nam với âm điệu hào sảng, trầm hùng “Bao chiến sĩ lên đường/Lạnh lùng vung gươm ra chiến trường…”. Còn tôi, được đề nghị ngâm bài thơ “Bầm ơi” của Tố Hữu, bài thơ tủ mà tôi thường trình bày trước đại đội hồi còn ở Hà Bắc.

Cuộc vui đang đến độ cao trào thì một loạt bom nổ dữ dội, các ngọn đèn dầu được làm bằng lọ dầu chống vắt của Mỹ vụt tắt, mọi người tản nhanh vào các ngách hầm chữ A ngay cạnh vách hội trường. Loạt bom cách đơn vị không xa, có lẽ mục tiêu chính của chúng là đánh phá tuyến ngầm giao thông gần đó. Sau phút bàng hoàng, cả hội trường lại bừng lên, cuộc vui lại tiếp diễn như không có gì xảy ra. Mặc dù giữa nơi chiến trường xa xôi, gian khổ và thiếu thốn trăm bề, nhưng mâm cỗ tết vẫn có đủ bánh trưng, kẹo, mứt, rượu, thuốc…Phần lớnlà sản phẩm tự sản tự tiêu của người lính Tây Nguyên,điều đó khiến chúng tôi cảm thấy ấm lòng.

Ăn Tết xong, cả đơn vị lại ra quân chuẩn bị cho mùa trồng tỉa, cánh lính Cao Bằng chúng tôi thì không lạ gì nương rẫynên hòa nhập rất nhanh. Tuy vậy, sợ chúng tôi là lính tò te, công tử nên cánh lính cũ tập trung trêu chọc râm ran khắp mặt nương. Y tá Phùng và B phó Nguyễn Văn Vạn đố chúng tôi rằng Thúy Vân và Thúy Kiều ai là chị, ai là em. Tôi thật thà đọc lại câu thơ đầu của của Nguyễn Du. Các anh cười bảo sai và ngâm rằng: Đầu lòng hai ả Tố Nga/Thúy Vân là chị em là Thúy Kiều/ Sắc tài hơn kém bao nhiêu…Rồi các anh lại căn vặn, cậu biết câu “xè xè nắm đất bên đường/Rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh” là có ý gì không. Tôi lại thật thà giải thích như đã được học ở trường. Hai anh lại lắc đầu và lý sự rằng đó là cảnh tả Thúy Kiều đi tiểu cạnh mộ Đạm Tiên nên cỏ chết héo ngay lập tức, cũng vì thế nên sau này đời cô ấy mới khổ…Tôi ngây ngô cãi lại chẳng được, sau đó mới ngớ ra mình mắc mưu lính già, họ trêu đùa tếu táođể giúp chúng tôi vợi bớt nỗi nhớ nhà và mau hòa nhập cuộc sống nơi đây.

Ở đại đội có cậu Khánh quê Phú Thọvà Đàm Lộc người dân tộc Tày quê Triệu Ẩu, Quảng Uyên, Cao Bằng.Cả hai đều có răng bịt vàng, răng của Khánh cũ xỉn và bị sứt, răng của Lộc mới lắp vàng chóe. Thế là họ trở thành mục tiêu trêu chọc của toàn đơn vị, chuyện rằng có hai anh chàng mới bịt răng vàng muốn khoe răng với mọi người, họ bèn rủ nhau ra quán bia, một anh cố tình nhe răng gọi cô bán hàng cho một cốc b..i..a, lập tức chiếc răng vàng của anh ta hé lộ khiến mọi người khen xuýt xoa, anh kia thì cười hết cỡ bảo cô gái cho một cốc p…ì…a, chiếc răng vàng lộ rõ hơn, mới và đẹp hơn của anh kia. Thế là từ đó Lộc có biệt danh là “Lộc pìa”, còn Khánh đành chấp nhận cái danh là “Khánh pia”. Nghe nói Lộc đã chuyển gia đình vào Tây Nguyên từ sau chiến tranh biên giới tháng 2/1979, nhưng không rõ ở tỉnh nào.

Thời kỳ này đường vận tải Trường Sơn bị đánh phá rất ác liệt nên toàn B3 đói lắm, tiêu chuẩn mỗi người chỉ được 1,5 lạng gạo mỗi ngày, rá cơm 2/3 là sắn đồ đánh tơi trộn với gạo nương hoặc đậu mắt cua. Người ốm nặng mới được một lưng cơm không trộn sắn, cả món rau cũng toàn lá sắ. Hồi còn ở nhà, tôi thường đội trưa hè lên rẫy hái lá sắn về nuôi tằm, nay thì hái lá sắnvề để nuôi chính mình. Bữa ăn nào cũng có món măng lồ ô, hết xào, luộc lại nộm. Rau muống, dền, củ cải trồng được đều phải phơi khô để dành cho đi chiến dịch,ngay cả thịt lơn cũng đem ướp muối mặn để giành cho tuyến trước.Vì thế những ngày ở hậu cứ thực sự là những ngày lao động cực nhọc và khem khổ.

Trong những ngày đầu về C17, tôi nhận thấy đây là một tập thể trẻ trung, nhanh nhẹn, thông minh và vui nhộn.Có lần tôi được chứng kiến cánh lính cũ thấy cậu Trúc “tồ” ngủ trưađể “của quý” dựng lên liền dùng dây võng buộc vào và kéo lên xà nhà cho tới khi cu cậu tỉnh giấc đau quá van xin mới thôi. Đó cũng là “giải pháp” chống ngủ ngày để tránh sốt rét. Hấp dẫn nhất là trò chơi bài “càn trọc”, một hình thức đánh tú lơ khơ nhưng chưa thấy bao giờ, trong đó con Q pích gọi là “quy xâm lược”. Nguyên tắc đánh là gồm 4 người chia hai phe ngồi xen kẽ. Bên ra quân phải dùng con chất mà mình có ưu thế để buộc đối phương phải ra quân cùng chất cho tới hết chất đó. Nếu đối phương đỡ được thì họ có quyền “càn” ngược lại. Trường hợp không có quân đỡ thì bạn cùng chơi phải đỡ thay…Nếu bên tấn công, làm chủ trận càn khiến đối phương không đỡ nổi và bị thối Q pích thì coi như trận càn kết thúc… Lắm hôm chơi bàidưới hầm say đến nỗi, B52 dội trên đầu mà lính ta cứ tỉnh bơ và phán rằng, chúng nó ném bom chưa chắc đã trúng, trúng chưa chắc đã bị thương, bị thương chưa chắc đã chết, rồi cãi nhau ỏm tỏi khi phát hiện kẻ ăn gian. Hóa ra, ngay cả trò chơi mang tính giải trí cổ điển ấy, lính ta cũng nghĩ ra cách đánh như đánh giặc ngoài trận tiền. Với một tập thể như vậy, nên có lần anh Khôn quân lực Trung đoàn, xem lý lịch biết bố tôi là thợ may, bảo tôi về Trung đoàn bộ bổ sung cho bộ phận hậu cần nhưng tôi từ chối.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
MỘT THỜI HOA LỬA (3) | Câu chuyện thời hoa lửa