MỘT THỜI HOA LỬA
Âm pin là một địa danh thuộc tỉnh Bắc Tâm Băng (nay thuộc tỉnh Bần tia miên chây đất nước Cam pu chia) biên giới với Thái Lan.
Tháng Giêng năm 1985, rừng biên giới khô đến mức mỗi bước chân đều có thể làm lá mục kêu lên lạo xạo. Chúng tôi hành quân từ chiều, men theo những con đường mòn ngoằn ngoèo giữa tre gai và bụi thấp. Mặt trời vừa lặn thì cả đơn vị dừng lại trong một khoảng rừng thưa. Tôi khi ấy mới hai mươi hai tuổi.
Đã qua vài trận càn, vài lần chạm súng, nhưng đêm trước một trận đánh lớn vẫn khiến tim đập mạnh như lần đầu cầm súng. Người ta có thể quen tiếng pháo, quen mùi thuốc súng, quen cảnh thiếu ngủ, nhưng không quen được cảm giác chờ đợi trước giờ xung phong. Tiểu đội trưởng Hòa ngồi xổm trên nền đất, lấy cành cây vạch sơ đồ. “Đây là căn cứ Âm Pin. Địch có giao thông hào, nhiều ụ súng, mìn và hàng rào. Đại đội mình đánh hướng nam. Nhiệm vụ: mở cửa, chiếm tuyến hào đầu.” Anh nói ngắn, rõ, giọng đều như đang đọc một điều gì đã thuộc lòng. Tôi nhìn nét vạch trên đất mà tưởng tượng phía trước là một pháo đài lớn. Những đường ngoằn ngoèo kia sẽ là nơi người sống chạy qua, người chết nằm lại.
Bên cạnh tôi, Tâm – cậu lính cùng quê – lục ba lô lấy ra mẩu lương khô, bẻ đôi đưa tôi. “Ăn đi. Biết đâu lát nữa không kịp.” Tôi cười: “Mày nói gở.” Nó nhún vai: “Thì tao nói thật.” Tâm ít hơn tôi một tuổi, nói nhiều, hay cười, và lúc nào cũng nhớ nhà. Trong ba lô nó luôn có tấm ảnh mẹ bọc nilon. Những lúc nghỉ quân, nó hay lấy ra xem rồi cất đi rất nhanh, như sợ ai nhìn thấy.
Đêm xuống hẳn. Trăng non mỏng như lưỡi liềm mắc trên ngọn cây. Xa xa, phía căn cứ địch có vài chớp sáng rồi tắt. Có lẽ họ cũng đang thay gác, cũng đang nấu nước, cũng có người ngồi nhớ nhà như chúng tôi. Tôi chợt nghĩ: bên kia chiến hào chắc cũng là những người lính trẻ. Nhưng khi tiếng còi hiệu vang lên khẽ trong bóng tối, mọi ý nghĩ mềm yếu đều phải gấp lại. Chúng tôi kiểm tra đạn, lựu đạn, dao găm, băng cứu thương.
Tiểu đội trưởng Hòa nói: “Không ai được đi lạc. Không ai bỏ bạn lại.” Rồi anh nhìn từng người, như muốn nhớ mặt tất cả. Khoảng nửa đêm, đơn vị bắt đầu bò lên tuyến xuất phát xung phong. Cỏ khô cọ vào áo nghe ràn rạt. Đất lạnh ngấm qua khuỷu tay. Tôi ngửi thấy mùi bùn lẫn mùi dầu súng. Trước mặt, căn cứ Âm Pin chìm trong bóng đen. Sau lưng, pháo binh của ta đang chờ lệnh. Tôi nắm chặt khẩu súng. Và chờ tiếng nổ đầu tiên.
0 giờ 30. Cả mặt đất rung lên. Loạt pháo đầu tiên rít qua đầu chúng tôi, lao thẳng vào căn cứ. Một chuỗi chớp sáng bật lên như sấm liên hồi. Đất đá, khói lửa và cây gãy tung lên nền trời đen. “Tiến!” Tiếng hô vừa dứt, tất cả bật dậy lao lên. Tôi chạy mà không còn nghe rõ tiếng chân mình. Chung quanh chỉ là tiếng nổ, tiếng súng máy, tiếng người hét. Đạn vạch những đường đỏ cắt ngang màn đêm. Tổ bộc phá bò tới hàng rào thép gai. Một tiếng nổ chát chúa. Khoảng trống vừa mở ra thì súng máy từ trong căn cứ quạt đạn thẳng vào cửa mở.
Người đi đầu ngã vật xuống. Người thứ hai kéo anh vào mép hố, rồi tiếp tục lao lên. Tiểu đội trưởng Hòa nhảy qua hàng rào trước. “Bám theo!” Tôi lao theo anh, nhảy xuống giao thông hào. Một tên lính đối phương bất ngờ xuất hiện trước mặt. Chúng tôi cùng giật mình. Tôi bóp cò gần như theo bản năng. Tiếng súng nổ trong hào nghe như xé tai. Hắn ngã xuống. Tôi đứng chết lặng một giây. Đó là lần đầu tiên tôi bắn một người ở cự ly gần đến vậy.
Hòa kéo giật vai tôi: “Đi tiếp!” Chiến đấu trong giao thông hào không giống ngoài đồng trống. Mọi thứ gần đến nghẹt thở. Rẽ một góc hào là gặp địch. Mỗi ụ đất có thể giấu một họng súng. Mỗi bước chân có thể giẫm phải mìn. Chúng tôi đánh từng đoạn hào, từng hầm trú ẩn. Tâm chạy phía sau tôi, vừa ném lựu đạn vừa la: “Bên trái!” Tôi quay sang đúng lúc một loạt đạn cày ngang thành đất. Đất cát phủ đầy mặt. Một giờ… rồi hai giờ… thời gian biến mắt trong tiếng nổ.
Trời gần sáng, đơn vị bên cánh trái đã thọc sâu vào trung tâm căn cứ. Từ phía đông, một mũi khác đánh cắt ngang khu chỉ huy. Địch chống trả quyết liệt nhưng thế trận đã bị bẻ gãy. Khi chúng tôi chiếm được một ụ súng lớn, tôi quay lại tìm Tâm. Không thấy nó. Tôi chạy ngược đoạn hào vừa qua, gọi khản cổ: “Tâm! Tâm!” Không tiếng trả lời. Cuối cùng tôi thấy nó nằm nghiêng bên mép hào, tay vẫn giữ quả lựu đạn chưa rút chốt. Mắt mở. Ngực áo loang đen.
Tôi quỳ xuống lay vai nó. Không còn gì để lay nữa. Tiếng súng vẫn nổ xung quanh. Người sống vẫn đang lao lên. Trận đánh chưa xong. Tôi đặt tấm ảnh mẹ nó vào túi áo ngực, rồi đứng dậy cầm súng chạy tiếp. Lần đầu tiên tôi hiểu chiến tranh là gì. Không phải bản đồ. Không phải khẩu hiệu. Là đang nói chuyện với một người, rồi vài phút sau người ấy không còn trên đời nữa.
Mặt trời lên muộn sau màn khói. Căn cứ Âm Pin đã im tiếng súng. Chỉ còn tiếng lách tách của gỗ cháy, tiếng người gọi nhau, tiếng cáng thương binh đi qua những đoạn hào ngổn ngang đất đá. Chúng tôi làm chủ trận địa vào gần trưa. Tôi ngồi trên mép công sự, hai tay run vì kiệt sức. Áo quần bùn đất, cổ họng khô cháy. Cả đêm tôi không thấy mệt. Đến lúc yên tiếng súng mới thấy chân tay rã rời. Tiểu đội trưởng Hòa đi kiểm quân số trở về. Mặt anh xạm khói. “Mình còn tám.” Tiểu đội đi vào trận mười hai người.
Không ai hỏi bốn người kia ở đâu. Ai cũng biết. Chúng tôi đào hố chôn cất tạm những đồng đội hy sinh bên mép rừng, cắm cành cây làm dấu. Không có kèn, không có khăn tang, không có lời điếu văn. Chỉ có những bàn tay đất bám đầy móng và những cái cúi đầu lặng lẽ. Tôi đặt tấm ảnh mẹ của Tâm lên ngực nó một lát rồi cất lại. Tôi sẽ mang về.
Buổi chiều, dân ở mấy phum gần đó rụt rè quay lại. Có cụ già chắp tay cảm ơn, có đứa trẻ đứng nhìn chúng tôi bằng đôi mắt vừa sợ vừa tò mò. Một bà mẹ bế con mang cho đơn vị nồi nước đun lá rừng. Người phiên dịch nói: “Họ bảo mấy năm nay mới dám ngủ yên”. Tôi nhìn căn cứ đổ nát phía sau. Hóa ra giữa những tiếng súng đêm qua, có những người chỉ mong một đêm được ngủ yên.
Tối hôm ấy, chúng tôi nằm ngay trên trận địa vừa chiếm. Không võng, không tăng. Chỉ trải poncho xuống đất. Tôi ngước nhìn trời. Sao rất sáng. Tiểu đội trưởng Hòa nằm bên cạnh, giọng khàn: “Mai lại đi tiếp.” Tôi hỏi: “Bao giờ mới hết đánh nhau hả anh?” Anh im lặng rất lâu rồi nói: “Khi nào người ta chán mất con mình.”
Tôi không ngủ được. Gió thổi qua hàng cây cháy sém nghe như tiếng thở dài. Nhiều năm sau, tôi vẫn nhớ đêm ấy. Nhớ tiếng pháo mở màn. Nhớ con hào đất đỏ. Nhớ tấm ảnh người mẹ trong túi áo. Và nhớ buổi sáng sau trận đánh — khi chim rừng vẫn hót như chưa từng có chiến tranh.



