Khác

MỘT THỜI HOA LỬA – NGƯỜI CHIẾN SĨ TÔN ĐỨC THẮNG

Tôn Đức Thắng sinh năm 1888 tại Long Xuyên, sớm chứng kiến cảnh nhân dân bị áp bức nên quyết tâm đấu tranh cho người lao động và đất nước. Ông tham gia phong trào công nhân, nổi bật là cuộc bãi công Ba Son năm 1925. Năm 1929, ông bị thực dân Pháp bắt và đày ra Côn Đảo, nhưng vẫn kiên cường giữ vững lý tưởng cách mạng. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ông trở về và tiếp tục tham gia lãnh đạo cuộc kháng chiến ở Nam Bộ, sau đó đảm nhiệm nhiều trọng trách của cách mạng. Năm 1969, sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, ông được bầu làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ông tiếp tục cùng nhân dân vượt qua chiến tranh và chứng kiến ngày đất nước thống nhất năm 1975. Năm 1976, ông trở thành Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ông qua đời năm 1980, để lại hình ảnh một người chiến sĩ cách mạng giản dị, kiên cường và tận tụy với nhân dân, đất nước.

An Giang14/08/2026Xã Phúc Trạch (Xã Phúc Trạch)11 lượt xem0 lượt chia sẻ
MỘT THỜI HOA LỬA – NGƯỜI CHIẾN SĨ TÔN ĐỨC THẮNG

Có những con người đi qua lịch sử không bằng những lời nói hào nhoáng, mà bằng cả một cuộc đời lặng thầm cống hiến. Có những năm tháng đã lùi xa, nhưng mỗi khi nhắc lại, ta vẫn nghe như tiếng vọng của một thời hoa lửa – thời của những người Việt Nam mang trong tim khát vọng độc lập, tự do, sẵn sàng đánh đổi tuổi trẻ, hạnh phúc riêng để giành lại tương lai cho dân tộc. Trong dòng chảy hào hùng ấy, Chủ tịch Tôn Đức Thắng là một con người như thế.

Tôn Đức Thắng sinh ngày 20 tháng 8 năm 1888 tại Long Xuyên, Nam Kỳ. Thuở thiếu thời, ông chứng kiến cảnh đất nước chìm dưới ách thống trị của thực dân Pháp, nhân dân phải sống trong cảnh cơ cực, người lao động bị áp bức và bóc lột. Những điều mắt thấy tai nghe dần hun đúc trong ông một tình yêu quê hương sâu sắc cùng ý chí đấu tranh cho những người lao động nghèo khổ.

Năm 1919, khi đang làm việc trên một chiến hạm của Pháp, Tôn Đức Thắng đã tham gia phong trào phản chiến của những người lính thợ. Hành động ấy tuy chỉ diễn ra trong một khoảnh khắc nhưng lại thể hiện một tinh thần kiên quyết: không đứng về phía những cuộc chiến tranh đàn áp nhân dân. Sau đó, ông trở về Sài Gòn và dành tâm huyết cho phong trào công nhân.

Những năm 1920, trong các xưởng máy và nhà máy ở Sài Gòn, cuộc sống của người lao động vô cùng khắc nghiệt. Đồng lương ít ỏi, thời gian làm việc kéo dài, còn quyền lợi của công nhân gần như không được bảo vệ. Tôn Đức Thắng đã cùng những người đồng chí thành lập Công hội đỏ, góp phần tổ chức và nâng cao ý thức đấu tranh của công nhân. Đỉnh cao là cuộc bãi công của công nhân Ba Son tháng 8 năm 1925, một dấu mốc quan trọng trong lịch sử phong trào công nhân Việt Nam.

Nhưng con đường cách mạng chưa bao giờ là con đường bình yên.

Cuối năm 1929, Tôn Đức Thắng bị thực dân Pháp bắt và kết án 20 năm khổ sai, đày ra Côn Đảo. Cánh cửa nhà tù khép lại trước mắt người chiến sĩ, nhưng không thể khép lại niềm tin trong lòng ông. Côn Đảo khi ấy được xem như một “địa ngục trần gian”, nơi những người tù cách mạng phải chịu đựng chế độ hà khắc. Thế nhưng giữa nơi tưởng chừng có thể nghiền nát ý chí con người ấy, Tôn Đức Thắng và những đồng chí của mình vẫn kiên cường đấu tranh, biến nhà tù thành một trường học cách mạng. Năm 1930, ông gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam tại Côn Đảo.

Mười lăm năm trôi qua trong chốn lao tù. Mười lăm năm mà mỗi ngày đều có thể là một thử thách đối với nghị lực của con người. Nhưng đối với Tôn Đức Thắng, thời gian không làm ngọn lửa trong lòng ông tắt đi. Trái lại, những năm tháng gian khổ ấy càng làm cho niềm tin của ông thêm vững chắc.

Rồi mùa thu năm 1945 đến.

Cách mạng Tháng Tám thành công, cánh cửa Côn Đảo mở ra. Ngày 23 tháng 9 năm 1945, Tôn Đức Thắng cùng gần 1.500 người tù được đón trở về đất liền. Nhưng niềm vui đoàn tụ với quê hương chưa kịp trọn vẹn thì đất nước lại bước vào một cuộc chiến mới khi thực dân Pháp quay trở lại xâm lược Nam Bộ. Không ngần ngại nghỉ ngơi sau những năm tháng tù đày, ông lập tức trở lại với cuộc đấu tranh, tham gia lãnh đạo nhân dân Nam Bộ kháng chiến.

Năm tháng chiến tranh tiếp tục đi qua trong tiếng súng và những mất mát. Từ Nam Bộ, rồi ra Hà Nội, Tôn Đức Thắng được giao nhiều trọng trách trong bộ máy cách mạng. Ông tham gia công tác mặt trận, Quốc hội và nhiều vị trí quan trọng khác, luôn hướng đến việc củng cố khối đoàn kết toàn dân. Từ năm 1946 đến khi qua đời, ông có nhiều năm gắn bó với công tác mặt trận và trở thành một trong những biểu tượng tiêu biểu của tinh thần đại đoàn kết dân tộc.

Những năm tháng ấy, đất nước lại bước vào một cuộc chiến tranh khốc liệt khác. Khi miền Bắc vừa xây dựng cuộc sống mới, miền Nam vẫn chìm trong khói lửa. Tôn Đức Thắng, với cương vị Phó Chủ tịch nước từ năm 1960, tiếp tục góp sức vào công cuộc xây dựng miền Bắc và đấu tranh vì thống nhất đất nước.

Năm 1969, một mất mát lớn xảy đến với dân tộc: Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời. Trong giờ phút đau thương ấy, Tôn Đức Thắng được Quốc hội bầu làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào ngày 23 tháng 9 năm 1969. Trên vai ông khi ấy không chỉ là một trọng trách lớn lao, mà còn là niềm tin của cả một dân tộc đang đứng giữa những năm tháng chiến tranh quyết liệt.

Ông tiếp tục cùng toàn dân đi qua những năm tháng khó khăn nhất của cuộc kháng chiến. Và rồi mùa xuân năm 1975 đã đến.

Ngày đất nước toàn thắng, Tôn Đức Thắng trở về miền Nam dự lễ mừng chiến thắng tại Sài Gòn. Thành phố từng ghi dấu những năm tháng tuổi trẻ của người chiến sĩ công nhân giờ đây đã đứng trong niềm vui của ngày thống nhất. Sau hàng chục năm chia cắt và chiến tranh, non sông cuối cùng đã thu về một mối.

Năm 1976, tại kỳ họp đầu tiên của Quốc hội nước Việt Nam thống nhất, Tôn Đức Thắng được bầu làm Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Nhưng có lẽ điều khiến người ta nhớ đến Bác Tôn không chỉ nằm ở những chức vụ mà ông từng đảm nhận. Đằng sau danh xưng Chủ tịch nước là hình ảnh một người sống giản dị, gần gũi và luôn dành sự quan tâm cho nhân dân, đặc biệt là những người lao động. Từ một người thợ ở Ba Son, một người tù Côn Đảo, một chiến sĩ cách mạng, đến người đứng đầu Nhà nước, ông vẫn giữ sự khiêm nhường và lòng tận tụy với đất nước.

Ngày 30 tháng 3 năm 1980, Chủ tịch Tôn Đức Thắng qua đời tại Hà Nội, hưởng thọ 92 tuổi. Một cuộc đời đã khép lại, nhưng những năm tháng ông sống và cống hiến vẫn còn ở lại với lịch sử.

Nhìn lại cuộc đời Tôn Đức Thắng, ta có thể thấy một con người đã đi qua gần trọn thế kỷ đầy biến động của dân tộc. Ông đã sống trong những ngày đất nước mất tự do, đã đứng lên từ phong trào công nhân, đã trải qua nhà tù Côn Đảo, đã cùng nhân dân vượt qua những cuộc chiến tranh khốc liệt và cuối cùng được chứng kiến ngày non sông thống nhất.

Có lẽ, lịch sử không chỉ được làm nên bởi những trận đánh lớn hay những thời khắc vang dội. Lịch sử còn được viết nên từ những con người âm thầm giữ vững niềm tin qua những ngày tháng đen tối nhất. Tôn Đức Thắng chính là một trong những con người như vậy.

“Một thời hoa lửa” đã đi qua, nhưng ngọn lửa của lòng yêu nước, ý chí kiên cường và tinh thần đoàn kết mà thế hệ ấy để lại vẫn còn cháy trong ký ức hôm nay. Và khi nhắc đến Tôn Đức Thắng, ta không chỉ nhớ về một vị Chủ tịch nước, mà còn nhớ về một người chiến sĩ đã dành gần trọn cuộc đời mình cho nhân dân, cho đất nước – một con người bình dị mà lớn lao giữa dòng lịch sử Việt Nam.

Video / Phóng sự

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn