Chương một
QUẢNG TRỊ VÀ CUỘC HỘI THẢO "HOÀI NIỆM VỀ CHIẾN TRƯỜNG XƯA VÀ ĐỒNG ĐỘI"1 Trước khi nói về cuộc Hội thảo Du lịch Quảng Trị "Hoài niệm về chiến trường xưa và đồng đội", tôi muốn dành ít trang nói về mảnh đất Quảng Trị anh hùng.
Nhìn trên bản đồ Việt Nam, Quảng Trị nằm ở đoạn thắt lại trên chiều dài Bắc - Nam vào trung điểm của cả nước, với diện tích 4.746 ki-lô-mét vuông, có mười đơn vị hành chính với hai thị xã, bảy huyện đất liền và một huyện đảo Cồn Cỏ, với 136 xã, phường, thị trấn. Phía đông Quảng Trị là biển Đông có chiều dài bờ biển hơn một trăm ki-lô-mét, phía tây giáp với nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào với đường biên giới dài 208 ki-lô-mét; phía nam giáp tỉnh Thừa Thiên - Huế và phía bắc giáp tỉnh Quảng Bình. Với địa thế như vậy, Quảng Trị tựa vào dãy Trường Sơn hùng vĩ và nhìn ra biển Đông bao la.
Quảng Trị có bốn vùng địa hình rõ rệt. Rừng núi, gò đồi, đồng bằng, cồn và cồn cát. Vùng rừng núi chiếm 30% diện tích, có độ cao từ 500 đến 700 mét, có những ngọn núi cao trên dưới 1.000 mét, nằm trong dãy Trường Sơn. Đặc biệt ngọn Tá Linh cao 1.701 mét, là ngọn núi cao nhất Quảng Trị, thuyền đi ngoài khơi xa vẫn nhìn thấy. Vùng này địa hình hiểm trở, trước chiến tranh chống Mỹ đây là vùng rừng già nguyên sinh sum suê, trù phú có nhiều loại lâm thổ sản và thú quý hiếm. Trong chiến tranh vùng rừng núi Quảng Trị bị chất độc hóa học và bom đạn Mỹ tàn phá nặng nề, ảnh hưởng rất lớn đến môi trường sinh thái, đến nay vẫn chưa phục hồi lại được. Tiếp đến là vùng gò đồi có dạng đồi bát úp ít dốc nhưng bị tàn phá gần hết chỉ còn cỏ tranh, cây dại, đồi hoang. ở các vùng đất bazan như Cùa, Tân Lâm, tây Gio Linh, Vĩnh Linh và các thung lũng ven khe suối gần đồng bằng mới có dân cư sinh sống, còn phần lớn chỉ là những đồi đất sỏi cằn cỗi.
Tiếp đến là vùng đồng bằng hẹp chỉ chiếm 11% diện tích, do phù sa sông suối bồi thành, gọi là đồng bằng nhưng chẳng mấy nơi bằng phẳng. Đồng bằng Quảng Trị là nơi trồng cây lương thực chủ yếu của tỉnh. Cuối cùng là vùng cồn và cồn cát, thường ở ven biển nhưng có nhiều nơi xen giữa đồng bằng.
Cát là tai họa cho vùng đồng bằng, vì gió xô, nước cuốn làm cát lấp dần đất sản xuất.
Quảng Trị có hệ thống sông suối phân bổ đều từ bắc vào nam. Ba hệ thống sông lớn là Hiền Lương (Bến Hải), Thạch Hãn và Ô Lâu cùng các sông nhỏ như Lai Phước, sông Hiếu, sông Nhùng và các sông nhánh như Vĩnh Định, Vĩnh Phước, ái Tử. Phía tây có sông Ba Lòng tạo thành mạng lưới giao thông thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế giữa các vùng trong và ngoài tỉnh cũng như cho việc xây dựng các công trình tưới tiêu, bảo đảm nguồn nước cho sinh hoạt và thủy điện. Hầu hết các sông ở Quảng Trị đều bắt nguồn từ dãy Trường Sơn, nhưng cũng có hai con sông chảy về phía tây sang nước Lào là sông Sê Pôn và sông Sê Băng Hiêng. Có những con sông ở Quảng Trị đã in đậm dấu ấn trong lịch sử như sông Bến Hải, sông Thạch Hãn. Lượng mưa ở Quảng Trị tuy lớn nhưng phân bố không đều. Lòng sông lại dốc nên lượng nước lưu lại trong các khu vực sông không được bao nhiêu, thêm vào đó là việc địa hình bị chia cắt nhiều nên mỗi lưu vực sông trở thành một bồn trũng gần như khép kín ngăn trở việc điều hòa dòng chảy.
Lãnh hải Quảng Trị có diện tích khá rộng, tuy là một ngư trường nguồn cá không phong phú nhưng bù vào đó lại có nhiều đặc sản của đại dương như tôm hùm, cá ngừ, cá chuồn... Vùng ven biển có nhiều đầm phá như Giao Liêm, Hà Bá (Triệu Phong), Diên Hà, Tử Lai, Thái Lai, Duy Viên (Vĩnh Linh) rộng hàng trăm héc ta có khả năng khai thác nuôi trồng thủy sản. Quảng Trị có hai cửa biển là Cửa Việt và Cửa Tùng - những đầu mối giao thông quan trọng. Cửa Tùng, Cửa Việt, Mỹ Thủy, Triệu Lăng... là những danh lam thắng cảnh và địa điểm nghỉ mát, có bãi tắm lý tưởng.
Quảng Trị có mạng đường bộ phát triển khá sớm.
Hệ thống đường mòn xuyên rừng xuyên núi, băng qua cồn cát ngày nay đã trở thành một đoạn của đường Hồ Chí Minh. Quảng Trị còn có đường quốc lộ 15, 14, 9, 1A chạy qua và các tỉnh lộ 64 (Quảng Trị - Cửa Việt), 68 (Quảng Trị - Triệu Hải), 72, 73, 74, 75 (Gio Linh). Đường 76 (Cam Lộ) cùng nhiều đường khác từ thị xã Quảng Trị đi La Vang, Phước Môn, Thượng Phước; từ Hải Lăng đi Hội Yên, Mỹ Thủy, từ Tà Rụt đi Sa-ra-van nước bạn Lào. Đặc biệt quốc lộ la và đường xe lửa xuyên Việt có chiều dài 64 ki-lô-mét chạy dọc trung tâm tỉnh qua các vùng đông dân, các thị trấn, thị xã như Hiền Lương, Đông Hà, Thạch Hãn, Mỹ Chánh. Đường số 9 (giờ đây trở thành con đường xuyên á chạy sang nước bạn Lào, qua cửa khẩu quốc tế Lao Bảo) là một con đường chiến lược cực kỳ quan trọng trong chiến tranh cũng như trong phát triển kinh tế thời bình.
----------------------- 1. Hiện nay gọi là "Du lịch Hoài niệm" cho dễ nhớ.
| |
Logged
|
|
|
|
Giangtvx Thượng tá  Bài viết: 25560 | 
| Re: Một thời Quảng trị - Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu« Trả lời #2 vào lúc: 15 Tháng Giêng, 2017, 10:22:01 pm » |
Hiện nay đường Hồ Chí Minh đã được xây dựng xong, góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế và an ninh quốc phòng của tỉnh.
Khí hậu nhiệt đới gió mùa nắng lắm, mưa nhiều, nền nhiệt độ cao là đặc trưng của khí hậu 'Quảng Trị.
Ngoài ra do vị trí và cấu trúc địa hình nên Quảng Trị còn có đặc điểm khí hậu riêng. Vùng khí hậu Đông Trường Sơn và vùng khí hậu Tây Trường Sơn có sự phân hóa trong chế độ mưa ẩm. Đường ranh giới giữa hai vùng khí hậu Đông và Tây Trường Sơn chính là đường sông núi của dãy Trường Sơn chạy từ phía bắc Động Voi Mẹp qua vùng núi thấp đông Khe Sanh đến động Ba Lê, Động Ngoài của tỉnh Thừa Thiên - Huế. Trong tiểu vùng khí hậu, đáng chú ý là tiểu vùng khí hậu đồng bằng ven biển Đông Trường Sơn với nền nhiệt độ cao, chịu tác động của gió Lào. Tiểu vùng khí hậu núi cao xấp xỉ 1.000 mét trở lên, lượng mưa trung bình đạt 280 mm. ở vùng núi cao, nhiệt độ trung bình từ 16 đến 20 độ C.
Không gian ở đây thoáng rộng, rất thích hợp với việc xây dựng các trung tâm nghỉ mát.
Đông Hà là nơi khô nóng nhất trong tỉnh. Mùa gió Tây Nam từ tháng 4 đến tháng 8, nhiệt độ có ngày lên tới 40 độ C.
Sự phức tạp của địa hình kết hợp với sự khắc nghiệt của khí hậu đã gây cho Quảng Trị các thiên tai như bão, lũ, lụt, hạn, xói mòn, sụt lở, cát bay...
Vì vậy đấu tranh với thiên nhiên để bảo vệ cuộc sống là yêu cầu đặt ra thường xuyên đối với người dân Quảng Trị.
Quảng Trị có tên từ năm 1809, sau khi giành lại được chính quyền vua Gia Long đã lập dinh Quảng Trị. Năm Minh Mạng thứ 12 (1831) được đặt thành tỉnh. Qua nhiều lần tách ra rồi nhập vào, ngày 17 tháng 2 năm 1906 toàn quyền Đông Dương ra nghị định thành lập thị xã Quảng Trị. Cách mạng tháng Tám thành công, các đơn vị hành chính cấp phủ đổi thành cấp huyện, bỏ đơn vị hành chính cấp tổng thành lập cấp xã.
Cuối tháng 7 năm 1954, theo Hiệp định Giơ-ne-vơ, sông Hiền Lương được chọn làm giới tuyến quân sự tạm thời chia cắt tỉnh Quảng Trị. Đại bộ phận các huyện, thị xã, thị trấn và một số thôn xã của Vĩnh Linh nằm ở phía nam giới tuyến thuộc tỉnh Quảng Trị do chính quyền nguy Sài Gòn kiểm soát. Hơn ba phần tư huyện Vĩnh Linh nằm ở phía bắc giới tuyến do Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa quản lý.
Nhà nước ta quyết định thành lập Đặc khu Vĩnh Linh trực thuộc Trung ương.
Sau khi thống nhất nước nhà, năm 1976, bốn đơn vị hành chính Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên và Đặc khu Vĩnh Linh được sáp nhập thành tỉnh Bình Trị Thiên.
Tháng 7 năm 1989, tỉnh Quảng Trị được tái lập đặt tỉnh lỵ tại thị xã Đông Hà. Quảng Trị đã trải qua nhiều thay đổi về địa lý hành chính, nhưng các địa danh Quảng Trị, Đông Hà, Triệu Phong, Hải Lăng, Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ, Hướng Hóa, Cồn Cỏ... vẫn sống mãi, vang vọng đến mai sau.
Quảng Trị có dân số trên 700 nghìn người, gồm nhiều dân tộc. Dân tộc Kinh chiếm 90% dân số. Còn lại là dân tộc Vân Kiều, Tà ôi, Pa Kô và một số dân tộc khác như Hoa, Mường, Tày, Thái, Cà Tu, Ba Na, Xê Đăng, Ê Đê, Nùng, Stiêng, Rục.
Nhân dân Quảng Trị có truyền thống đấu tranh cách mạng kiên cường, không hề khuất phục trước kẻ thù xâm lược nào. Năm 1418, dưới ngọn cờ khởi nghĩa của Lê Lợi, nhân dân đã nhất tề đứng lên đánh đuổi quân Minh giải phóng hai châu Tân Bình và Thuận Hóa. Nhân dân còn động viên hơn hai vạn thanh niên từ Đèo Ngang đến đèo Hải Vân gia nhập nghĩa quân Lê Lợi tiến ra Bắc đánh đuổi quân Minh giành quyền độc lập cho dân tộc. Vào thế kỷ XVIII, trong cuộc nội chiến giữa hai tập đoàn phong kiến Trịnh - Nguyễn, nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân nổ ra. Nhân dân Quảng Trị đã tham gia phong trào Tây Sơn diệt Nguyễn phá Xiêm, giải phóng Đàng Trong, đông đảo nhân dân Tân Bình, Thuận Hóa tập hợp dưới ngọn cờ đại nghĩa của Nguyễn Huệ tiến quân ra Bắc, đại phá Mãn Thanh thống nhất non sông, bảo vệ nền độc lập của dân tộc.
Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược đất nước ta.
Đầu năm 1874, cùng với nhân dân cả nước, nhân dân Quảng Trị đã hưởng ứng "Hịch Bình Tây" của các sĩ phu Nghệ An đứng lên đấu tranh chống thái độ thỏa hiệp đầu hàng của triều đình nhà Nguyễn.
Ngày 6 tháng 6 năm 1884, triều đình nhà Nguyễn phản bội, ký Hiệp ước Pa-tơ-nết dâng nước ta cho đế quốc Pháp. Nhân dân Quảng Trị đã giúp Tôn Thất Thuyết và phái chủ chiến của ông xây dựng căn cứ Tân Sở (Cùa, Cam Lộ). Đông đảo thanh niên trong tỉnh lên Tân Sở luyện tập quân sự chuẩn bị chiến đấu. | |
Logged
|
|
|
|
Giangtvx Thượng tá  Bài viết: 25560 | 
| Re: Một thời Quảng trị - Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu« Trả lời #3 vào lúc: 15 Tháng Giêng, 2017, 10:22:18 pm » |
Sau cuộc tập kích quân Pháp đóng ở Huế ngày 4 tháng 7 năm 1885 bị thất bại, Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi lánh ra Quảng Trị và chọn Tân Sở làm căn cứ kháng chiến chống Pháp của vua Hàm Nghi. Vùng đất hiểm trở này đã trở thành kinh đô dã chiến, là đầu não kháng chiến của phong trào Cần Vương. Tại đây, ngày 13 tháng 7 năm 1885, vua Hàm Nghi hạ "Chiếu Cần Vương", vạch tội ác thực dân Pháp, kêu gọi văn thân yêu nước và nhân dân nổi dậy chống quân xâm lược Pháp. Hưởng ứng "Hịch Cần Vương" của vua Hàm Nghi, các cuộc khởi nghĩa liên tiếp nổ ra trong tỉnh Quảng Trị, làm thức tỉnh tinh thần độc lập dân tộc và nêu cao ý chí kiên cường bất khuất chống ngoại xâm của nhân dân ta.
Ngót 100 năm bền bỉ đấu tranh chống ách đô hộ của thực dân Pháp và tiến hành các cuộc chiến tranh giải phóng vĩ đại trong thế kỷ XX, đặc biệt là trong 21 năm kiên cường kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nhân dân Quảng Trị đã góp phần xứng đáng vào thắng lợi chung của dân tộc. Những năm tháng chiến tranh ác liệt đó cũng là những năm tháng hào hùng rực rỡ chiến công của quân dân Quảng Trị.
Quảng Trị đã một thời làm cho thực dân Pháp và đế quốc Mỹ kinh hoàng trên các mặt trận: Đường 9, Khe Sanh, Cồn Tiên, Dốc Miếu, Cửa Việt, Thành Cổ...
Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Quảng Trị đã có hơn 20 năm là tuyến lửa. ở đây đã xuất hiện hàng loạt sự tích anh hùng cùng nhiều địa danh lẫy lừng chiến công, biểu tượng cho chí khí quật cường, quả cảm và niềm tự hào lớn lao của cả dân tộc ta. Chính điều đó đã tạo nên sự phong phú và đồ sộ mang tính đặc thù, độc đáo trong toàn bộ hệ thống di sản văn hóa của tỉnh Quảng Trị.
Từ ngày 21 đến ngày 23 tháng 7 năm 2005, ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị đã mở cuộc Hội thảo du lịch Quảng Trị. Trước đó, khi trao đổi với tôi, ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị đã nêu một số chủ đề về du lịch của địa phương. Tôi đề xuất chủ đề Hội thảo là: Hoài niệm về chiến trường xưa và đồng đội với hy vọng Hội thảo sẽ là diễn đàn khoa học, đánh giá và khẳng định giá trị lịch sử cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc của cách mạng Việt Nam đã diễn ra tại Quảng Trị - mảnh đất đậm đặc những di tích chiến tranh của thời chống Mỹ xâm lược Những địa danh lịch sử trên vùng đất này vẫn còn âm vang trong lòng nhân dân cả nước và bạn bè quốc tế. Nói tới Quảng Trị làm sao ta quên được Cồn Cỏ, sông Bến Hải, cầu Hiền Lương, địa đạo Vịnh Mốc, Dốc Miếu, Cồn Tiên, Đông Hà, Cam Lộ, Đầu Mầu, Làng Vây, Khe Sanh, Thành Cổ, sông Thạch Hãn, suối La La, Nghĩa trang Liệt sĩ quốc gia Trường Sơn, Nghĩa trang Liệt sĩ quốc gia Đường 9, đường Hồ Chí Minh, hàng rào điện tử Mác Na-ma-ra...
Quảng Trị có tới 72 nghĩa trang liệt sĩ. Trong đó có hai nghĩa trang quốc gia như đã kể trên. Nghĩa trang Liệt sĩ quốc gia Trường Sơn nằm ở thượng nguồn sông Bến Hải có 10.263 mộ chí, Nghĩa trang Liệt sĩ quốc gia Đường 9 là nơi yên nghỉ của 10.420 chiến sĩ và trong 81 ngày đêm mùa hè đỏ lửa ở Thành Cổ - Quảng Trị năm 1972 cũng gần ngần ấy đồng đội ngã xuống. Máu xương chiến sĩ ta là một phần trầm tích sâu dày của Quảng Trị.
Thông qua những tham luận trong hội thảo, các nhà khóa học, các nhà nghiên cứu lịch sử, những vị tướng lĩnh, những cựu chiến binh, những nhà lãnh đạo chỉ huy chiến đấu trên mảnh đất này đã giúp cho tôi hồi tưởng đậm nét thêm những năm đánh Mỹ gian khổ, quyết liệt cùng đồng bào, đồng chí, đồng đội lập nên những chiến công vang dội từ Tết Mậu Thân (1968) cho tới Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975 lịch sử. Tôi bồi hồi nhớ về những vị tướng, những người thầy đã giúp đỡ, chỉ bảo, dìu dắt tôi trưởng thành. Đó là các vị Tướng: Lê Trọng Tấn, Lê Quang Đạo, Cao Văn Khánh, Lê Tự Đồng, Lê Quang Hòa, Hoàng Minh Thi... cùng biết bao đồng chí, đồng đội khác.
Tôi cũng bồi hồi nhớ lại bức điện của Bác Hồ kính yêu gửi quân dân mặt trận Khe Sanh (Quảng Trị) ngày 13 tháng 7 năm 1968, sau khi ta thắng lớn ở mặt trận này. Bức điện có đoạn: "Cuộc thắng lợi của ta ở Khe Sanh tỏ rõ mưu lược và sức mạnh vô địch của quân, dân và cán bộ ta, nó góp phần xứng đáng vào thắng lợi to lớn của miền Nam từ đầu xuân cho đến nay... thắng lợi vẻ vang của Khe Sanh càng giục giã quân và dân miền Bắc cố gắng hơn nữa, bắn rơi nhiều máy bay giặc Mỹ hơn nữa.
Giặc Mỹ tuy thua, nhưng vẫn rất ngoan cố. Đồng bào, chiến sĩ và cán bộ ta phải luôn luôn cảnh giác, liên tục đánh mạnh, đánh thắng. Nam - Bắc một lòng, ra sức đánh giặc. Thắng lợi cuối cùng nhất định về ta". |
|
|