"Mưa đỏ"
Hoà bình – hai tiếng thiêng liêng mà biết bao thế hệ đã phải đánh đổi bằng máu, nước mắt và cả tính mạng để giành lại. “ Sau bao nhiêu năm mới có ngày hoà bình, dù hoà bình ấy cũng đã lấy đi bao máu xương dân mình…” trích trong ca khúc “Còn gì đẹp hơn” của Nguyễn Hùng, được sử dụng trong nhạc phim “Mưa đỏ” như một lời nhắc nhở dầy day dứt về cái giá phải trả cho sự tự do, về những hi sinh thầm lặng phía sau ánh sáng của ngày toàn thắng. Tên gọi tiểu thuyết Mưa Đỏ của nhà văn Chu Lai là một ẩn d
Hoà bình – hai tiếng thiêng liêng mà biết bao thế hệ đã phải đánh đổi bằng máu, nước mắt và cả tính mạng để giành lại. “ Sau bao nhiêu năm mới có ngày hoà bình, dù hoà bình ấy cũng đã lấy đi bao máu xương dân mình…” trích trong ca khúc “Còn gì đẹp hơn” của Nguyễn Hùng, được sử dụng trong nhạc phim “Mưa đỏ” như một lời nhắc nhở dầy day dứt về cái giá phải trả cho sự tự do, về những hi sinh thầm lặng phía sau ánh sáng của ngày toàn thắng.
Tên gọi tiểu thuyết Mưa Đỏ của nhà văn Chu Lai là một ẩn dụ ám ảnh đậm chất sử thi. Bởi “Mưa đỏ” chính là “Mưa máu. Dòng Thạch Hãn chảy suốt trong “Mưa đỏ” làm nên kết cấu trôi theo dòng thời gian tám mươi mốt ngày đêm, không chỉ chảy ngoài không gian địa lý, còn chảy trong không gian tâm trạng các nhân vật tạo cho nhịp tiểu thuyết uyển chuyển, linh hoạt và đa dạng như chính trên chiến trường ngày ấy. Vang lên từ bản giao hưởng bi tráng này là âm thanh của đạn bom, của đủ mọi loại đạn pháo, vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại nhất lúc bấy giờ. Là hình ảnh các chiến sĩ cảm tử bên ta và những người lính “phía bên kia”- khi họ bị đẩy vào bước đường cùng. Là khói lửa, là những cái chết... Nhà văn đã chọn được bối cảnh tiêu biểu về chiến tranh ác liệt nhất không chỉ ngoài chiến địa mà còn cả trong lòng người ở hai bờ chiến tuyến, với những đấu tranh giằng xé để bật ra sự dũng cảm và đớn hèn, yêu thương và căm giận, thiện và ác... Tiểu thuyết “Mưa đỏ” đã vươn tới sự đa thanh, đa giọng, đa tuyến, đa tính cách.
Đối mặt với bão lửa dữ dội, khủng khiếp là một tiểu đội có Tiểu đội trưởng Tạ cùng “dáng nông dân chắc nịch vùng đồng bãi...”, còn các chiến sĩ khác thì mỗi người một quê. Lúc chiến đấu, họ là những người lính ngoan cường, lúc thư thái hiếm hoi, họ sinh hoạt như trong một gia đình. Đó là Sen đã lớn tuổi người Sài Gòn, Cường-sinh viên Nhạc viện Hà Nội, Bình “vẩu”,sinh viên mỹ thuật quê Đông Hà, Hải “gù”,
công nhân điện Hà Tây. Em út là Tú, tròn tuổi mười sáu tuổi. Về sau bổ sung thêm Tấn mới mười lăm tuổi. Đó là lứa thanh niên “tài hoa ra trận” để thành những người lính can trường, quả cảm.
Một người lính được nhà văn điêu khắc bằng thứ ngôn ngữ vừa hoành tráng sử thi vừa trữ tình là Đặng Huy Cường. Có bố là bộ đội chống Pháp, anh trai là liệt sĩ, được tuyển chọn đi học nước ngoài nhưng Cường tình nguyện lên đường chiến đấu và có mặt ở Thành cổ gần trọn tám mươi mốt ngày đêm. Như một nốt nhạc trong bản tổng phổ giao hưởng hoành tráng, Cường đã góp thêm, tô thêm màu đỏ chiến công của lá cờ chiến thắng. Những giọt máu hồng tươi đỏ của đời anh đã hòa lẫn vào “Mưa Đỏ” để tưới nhuần cỏ xanh Thành cổ tươi non sắc xanh hòa bình. Cùng với Cường, là Hải một mình đánh nhau với cả đại đội hắc báo, là Tú đang tuổi học trò mười sáu tuổi mà đã đánh giáp lá cà đẩy lui cả đội hình tập kích địch... Thân thể họ, tuổi hai mươi của họ đã hóa “thành sóng nước” dòng Thạch Hãn để “vỗ yên bờ mãi mãi ngàn năm”!
“ Nhẹ bước chân và nói khẽ thôi
Thành cổ rộng sao bạn tôi nằm chật
Mỗi tấc đất là một cuộc đời có thật
Cho hôm nay tôi đến nghẹn ngào…”
Vượt qua giới hạn của một tiểu thuyết sử thi truyền thống miêu tả một trận đánh, một chiến dịch và “ta” thắng, “địch” thua, “Mưa đỏ” đã vươn tới sự phân tích tâm lý khá sắc sảo ở mọi tuyến nhân vật. Như ở tuyến nhân vật phản diện, điển hình là tên Quang, toán trưởng hắc báo ngụy được miêu tả sống động làm hiện lên sự hung hãn, với một “bản lĩnh chống Cộng” điên cuồng, nhưng hắn cũng có những rung động, trăn trở về cuộc chiến tranh mà hắn tham chiến! Hình thức “liên văn bản” nhật ký - tiểu thuyết trong “Mưa đỏ” được vận dụng thành công tạo ra hai điểm nhìn song hành, điểm nhìn của người kể chuyện và điểm nhìn của nhân vật chính, là Cường. Điểm nhìn của người kể đánh giá một cách khách quan về cuộc chiến thì điểm nhìn nhân vật (Cường trong các trang nhật ký) lại đậm yếu tố chủ quan, nhìn thấy, nghe thấy, cảm thấy, trực tiếp tham gia các biến cố. Nhờ vậy, giọng kể vừa có cái vô tư bên ngoài, bao quát lại có cả tiếng nói bên trong, cụ thể. Giọng kể còn mở ra các không gian mờ ảo, chưa rõ ràng, là các vùng linh giác, linh cảm... mà khoa học gọi là “trường sinh học”,mối liên hệ chỉ xuất hiện ở những người có quan hệ mật thiết, máu mủ.
Qua các trang nhật ký, bạn đọc hình dung rõ hơn về chiến sĩ Cường với tâm hồn trong trẻo của ánh sáng lý tưởng cùng mối quan hệ thiêng liêng với người mẹ. Khi Cường chiến đấu ở Quảng Trị thì mẹ Cường (bà Lan) cũng là chiến sĩ chiến đấu trên mặt trận ngoại giao ở Paris không kém cam go, gay cấn... Là một người phụ
nữ đẹp, vị tha, thông minh, đảm đang nhưng chẳng may chồng mất sớm, bà Lan một mình nuôi các con trưởng thành. Là người mẹ, bà tha thiết mong mỏi đến ngày hòa bình để những thanh niên như Cường được miệt mài trên giảng đường đại học. Trước khi bay về miền mây trắng, như bao người lính trẻ ngã xuống vì Tổ quốc, Cường nghẹn ngào cất lên hai tiếng thiêng liêng cuối cùng: “Mẹ ơi!”. Vì lúc ấy, người mẹ là điểm tựa tinh thần lớn lao nhất. Mẹ sinh ra con và mẹ đón con về. Đúng thời điểm ấy, trong vô thức, bà Lan có một âm vọng như là tiếng gọi của đứa con yêu. Một tiếng nói của tình mẫu tử thảng thốt đáp lại: “Con ơi!”... Người con ấy không chỉ lấy máu mình góp phần viết nên chiến thắng ở Thành cổ mà còn trở thành nguồn sức mạnh để mẹ mình chiến thắng trên bàn đàm phán! “Vì mẹ không chỉ là mẹ, mà trong những phút giây hiểm nghèo nhất, đối với con, mẹ còn là Hà Nội, là quê hương, là Tổ quốc. Con nói thế, chắc mẹ hiểu" .Giữa những tầng sâu ký ức chưa kịp ngủ yên, Mưa đỏ của Chu Lai không đơn thuần là một cuốn sách, đó là một cơn mưa ký ức rơi xuống lòng người, từng giọt nặng trĩu máu, nước mắt và những điều không bao giờ có thể gọi thành tên. Tác phẩm mở ra không phải một chiến trường, mà là một vực sâu của đau thương,nơi tuổi trẻ bị xé toạc, nơi ước mơ vỡ vụn như những mảnh pháo còn nóng bỏng trên nền đất cháy.Ở đó, những người lính không bước vào chiến tranh như những huyền thoại, mà như những con người rất đỗi bình thường, biết sợ, biết nhớ, biết khao khát được sống. Họ mang theo tiếng cười còn dang dở, những giấc mơ còn chưa kịp gọi tên… rồi lặng lẽ gửi lại tất cả dưới lòng đất đỏ. Có những cái chết không kịp trăn trối, có những ánh mắt mở to giữa hư không, như còn mãi kiếm tìm một vòng tay chưa kịp trở về. Mưa đỏ không né tránh nỗi đau mà nó bóc trần, xoáy sâu và để lại trong tim người đọc một khoảng trống lạnh buốt. Nhưng chính trong tận cùng của khốc liệt ấy, ánh sáng của tình người lại hiện lên đến nhói lòng: một cái nắm tay giữa làn đạn, một ánh nhìn cảm thông giữa hai chiến tuyến, một tiếng “Mẹ ơi…” bật ra như bản năng cuối cùng của con người trước cái chết. Và rồi, khi tất cả khói lửa lắng xuống, chỉ còn lại những người mẹ. Hai người mẹ, hai phía, hai nỗi đau… nhưng cùng quỳ xuống trước những nấm mộ vô danh, cùng thắp lên một nén hương cho những đứa con không bao giờ trở lại. Khoảnh khắc ấy, mọi ranh giới tan biến chỉ còn lại nỗi đau của con người ôm lấy con người, run rẩy mà bao dung.
“ Đem thanh xuân gieo tự do cho đất nước, với con thế thôi, còn gì đẹp hơn..” Riêng việc ca khúc này được viết dưới góc nhìn của một người con, nhắn nhủ đến mẹ của mình, hát cho mẹ nghe, nhưng đồng thời không chỉ là bày tỏ tình yêu với mẹ, mà rộng lớn hơn thế, mênh mông hơn cả như thế, đó là tình yêu dành cho quê hương đất nước. Chúng ta thấy được rằng là tình cảm cá nhân đã có sự hoà quyện
và song hành cùng với tình yêu quê hương đất nước, cùng với trách nhiệm mà mỗi cá nhân dành cho cộng đồng, đó chính là một tinh thần và lí tưởng chung của thế hệ tuổi trẻ Việt Nam trong những giai đoạn mưa bom bão đạn, trong những giai đoạn mà khi tổ quốc cần thì hàng triệu trái tim sẽ hồi đáp bằng chính thanh xuân của mình. Thanh xuân chính là tuổi trẻ, là khoảng thời gian mà thông thường chúng ta sẽ giàu có và dồi dào nhất về sức lực, về trí lực về thời gian và cả những ước mơ hoài bão, thanh xuân là khi mà chúng ta có những đam mê cho riêng mình. Thế nhưng, đối với những người trẻ của những tháng năm ấy, thì họ coi thanh xuân là những hạt mầm, để có thể gieo trồng lên những cái cây tự do bất diệt, đến muôn đời sau cho quê hương. Thanh xuân ấy là thanh xuân mà họ gác lại những ước mơ riêng tư, họ gác lại những câu chuyện cá nhân, họ gác lại cái tên riêng của mình, họ gác lại khao khát định vị và định nghĩa mình để có thể hoà quyện và xây dựng nên khu vườn chung của tổ quốc, của quê hương. Và họ cho rằng, đó là ước mơ đẹp nhất. Bởi vì tác giả đã viết rất bình dị “ Còn gì đẹp hơn ” , quả thật là như thế , còn gì đẹp hơn một thế hệ trẻ sẵn sàng hiến dâng thanh xuân của mình cho mùa xuân bất diệt của tổ quốc…
Người nghệ sĩ không chỉ mô tả hành động bên ngoài của các nhân vật Tạ, Sen, Hải, Cường,... mà còn hé mở được nội tâm có phần mềm yếu và non nớt, biết sợ hãi của Tú. Việc dịch chuyển điểm nhìn từ phía ta sang phía địch đã khắc họa sự kinh ngạc của Quang trước hành động nhân đạo của Cường, gián tiếp nâng tầm người chiến sĩ của nhân dân mà không cần một lời ca ngợi. Nhà văn khéo léo biến Cường thành một biểu tượng cho nhân cách cao đẹp và tinh thần nhân đạo ngay cả trong hoàn cảnh tăm tối nhất. Nhờ sự linh hoạt trong cách sử dụng điểm nhìn, ông đã thành công trong việc tạo ra cái nhìn khách quan và đa chiều về con người thời chiến, truyền tải sâu sắc tư tưởng nhân đạo. Trong toàn bộ tiểu thuyết , Chu Lai cũng luôn quan sát các nhân vật trên nhiều chiều kích, nhiều góc độ và thường xuyên đặt họ lên cái nhìn đối sánh. Nhân vật được khắc họa trong trạng thái đối lập đến ngôi kể, điểm nhìn toàn tri… Tất cả đã được thi sĩ sử dụng hiệu quả, giúp người đọc như thể được hòa mình trong không gian thành cổ. Đặc biệt là việc sử dụng ngôn ngữ giàu chất điện ảnh, một loạt các động từ mạnh và phép so sánh độc đáo, ngôi kể thứ ba với sự dịch chuyển điểm nhìn linh hoạt cũng được nhà văn khai thác triệt để.... Những điều này đã góp phần tạo nên một bức tranh chiến đấu trực quan, sống động, kích thích tối đa trí tưởng tượng của người đọc.
Chu Lai đã thành công trong việc tạo ra cái nhìn khách quan và đa chiều về con người thời chiến, truyền tải sâu sắc tư tưởng nhân đạo và có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa hiện thực tàn khốc và chủ nghĩa anh hùng lãng mạn. Từ tình huống
bất ngờ, nhân vật được khắc họa trong trạng thái đối lập đến ngôi kể, điểm nhìn toàn tri … tất cả đã được Chu Lai đã sử dụng hiệu quả, giúp người đọc như thể được hòa mình trong không gian thành cổ. Đặc biệt là việc sử dụng ngôn ngữ giàu chất điện ảnh, một loạt các động từ mạnh và phép so sánh độc đáo, ngôi kể thứ ba với sự dịch chuyển điểm nhìn linh hoạt cũng được nhà văn khai thác triệt để.... Những điều này đã góp phần tạo nên một bức tranh chiến đấu trực quan, sống động, kích thích tối đa trí tưởng tượng của người đọc.
Khi nhắc về cảm nhận lần đầu đọc “Mưa đỏ”, nhà phê bình văn học Nguyễn Thanh Tú có nói: “Chu Lai trong “Mưa đỏ” đã đẩy ngòi bút lách sâu, nhập thân vào nhân vật, gọi ra ở nhân vật những trăn trở, dằn vặt rất con người không chỉ ở phía ta mà cả ở phía địch. Để cho bạn đọc thấy, thì ra đã là người Việt ai cũng đều máu đỏ chung dòng giống. Câu chữ khép lại còn ý nghĩa thì mở ra: Hãy cùng yêu thương nhau, cùng yêu hòa bình, cùng nhau gắn nối và gắn kết để dân tộc mãi trường tồn, đất nước ngày càng giàu mạnh…”. Trích đoạn trên chính là minh chứng xuất sắc cho tài năng nghệ thuật của nhà văn. Có lẽ vì thế mà “Mưa đỏ” đã trở thành một tác phẩm có giá trị lớn lao, giúp thế hệ sau hiểu thêm về sự hi sinh và lòng nhân ái của con người Việt Nam trong những giai đoạn khốc liệt nhất của lịch sử.Đọc Mưa đỏ, ta không chỉ đi qua một cuốn sách mà còn đi qua một cơn bão của cảm xúc, để rồi khi bước ra, lòng mình như vừa mất đi một điều gì đó rất sâu, rất thật. Và ta hiểu rằng: có những cơn mưa không bao giờ tạnh… vì chúng rơi mãi trong ký ức của một dân tộc.“Ra đi mang nặng lời thề, chưa thắng giặc Mỹ chưa về Bách Khoa” Câu chữ khép lại, những trang ý nghĩa mới mở ra. Người ta là hoa đất, có gì quý hơn con người đâu. Thế mà có biết bao con người trẻ nhất, đẹp nhất, thánh thiện nhất đã ngã xuống để đất nước có ngày hoà bình. Cao hơn cái chết là vô cùng sự sống. Vượt lên mất mát là chân trời hy vọng. Những cái chết anh hùng ấy đã nâng “Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân”! Dường như để cân bằng với hiện thực dữ dội kia, có một nguồn ánh sáng của chất thơ trữ tình soi rọi vào miền đất chiến tranh khô cằn, lạnh lẽo. Đó là những dòng thư gửi mẹ của chàng sinh viên Cường tràn trề khát vọng mà chân thành đến đáy. Đó là hình ảnh cô gái (Hồng) đẹp đến nao người chèo thuyền vẽ trên dòng Thạch Hãn buổi sớm êm đềm những quầng sáng thần thánh... Những hình tượng ấy như là một cách lý giải người Việt Nam chiến thắng kẻ thù hung bạo không chỉ bằng lòng dũng cảm, trí thông minh, còn bằng lý tưởng, tình người, cái đẹp và sự thanh thản đến lạ kỳ... Những cơn “mưa đỏ” đã ngấm sâu vào mảnh đất văn hóa Việt để cây cối đâm chồi nảy lộc, kết thành màu xanh hòa bình, hy vọng. Dưới ánh sáng mặt trời lý tưởng cách mạng, màu xanh ấy sẽ xanh mãi, xanh mãi đến vô cùng!
Tổng bí thư Tô Lâm đã từng quan niệm rằng: “Chúng ta không thể viết lại lịch sử, nhưng chúng ta có thể hoạch định lại tương lai. Quá khứ là đề ghi nhớ, để tri ân và
đề rút ra bài học. Tương lai là để cùng nhau xây dựng kiến tạo và phát triển. Đó là lời hứa danh dự của thế hệ hôm nay với những người đã ngã xuống, là tâm nguyện chung của một dân tộc từng trải qua nhiều đau thương nhưng chưa bao giờ khuất phục". Quả thật, mảnh đất thiêng liêng, nơi mỗi tấc đất đề ghi dấu sự hi sinh vĩ đại của các vị anh hùng , nơi mỗi ngọn cỏ, mỗi bông hoa đều lưu giữ câu chuyện về lòng yêu nước sâu sắc và mãnh liệt “Mưa đỏ” không chỉ là bản hùng ca về lòng dũng cảm, mà còn là khúc bi tráng khắc sâu nỗi đau chiến tranh. Hình ảnh những thi thể người lính nằm chồng chất giữa dòng nước lũ, tiếng khóc nghẹn ngào của thương binh mất đồng đội, hay dòng Thạch Hãn đỏ ngầu máu người, tất cả đều khiến người xem lặng đi trong xúc động. Thành cổ Quảng Trị, nơi máu đã hoá thành hoa, nơi cái chết đã hoá thành vĩnh hằng. Và với chúng ta, hậu duệ của những người đã ngã xuống, là lối tri ân sẽ mãi không bao giờ đủ, thành kính và nghiêng mình… Bộ phim không lí tưởng hoá chiến tranh, mà phơi bày nó như một bi kịch của nhân loại, để từ đó khơi dậy trong mỗi người nhận thức sâu sắc rằng: Hoà bình là giá trị thiêng liêng, đáng quý nhất và tự do nào cũng được đánh đổi bằng những hi sinh không thể đong đếm được


