Bài viết

MÙA GIÓ MẶN TRÊN ĐẤT HẢI HẬU

Ninh Bình01/06/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Năm 1968, vùng quê Hải Hậu bước vào những ngày chiến tranh ác liệt nhất. Từ ngoài biển Đông, máy bay Mỹ thường xuyên quần thảo dọc ven biển Nam Định để đánh phá các tuyến giao thông, kho hàng và đê biển. Những cánh đồng lúa vốn yên bình giờ đầy hố bom loang lổ. Ban ngày người dân cấy lúa, đào hầm. Ban đêm họ đốt đèn dầu vá lưới, may áo cho bộ đội và nghe tiếng còi báo động vọng từ đầu huyện.

Xã Hải Chính khi ấy chỉ có con đường đất chạy dọc theo cánh đồng muối. Mỗi lần mưa xuống, đường lầy đến mức xe đạp phải vác lên vai mà đi. Trong căn nhà mái rạ nằm cạnh con mương nhỏ, gia đình ông Phúc sống bằng nghề làm muối và trồng lúa.

Ông Phúc có ba người con. Người cả là Thuận đang chiến đấu ở Trường Sơn. Người út mới lên mười. Còn người con giữa là Nguyễn Văn Lâm, hai mươi mốt tuổi, khỏe như trai biển.

Lâm nổi tiếng trong làng vì đôi vai rộng và bơi giỏi. Mỗi mùa nước lớn, thanh niên trong xóm thường rủ nhau ra cửa biển Hà Lạn kéo lưới đêm. Lâm luôn là người nhảy xuống nước đầu tiên giữa gió rét cắt da.

Nhưng chiến tranh khiến mọi thứ đổi khác.

Một chiều tháng tám, khi dân làng đang gặt lúa chạy bão thì tiếng còi báo động vang lên từ hợp tác xã.

“Máy bay! Máy bay vào từ phía biển!”

Tiếng hô vừa dứt, bầu trời đã rung lên bởi tiếng động cơ phản lực. Những chiếc F-4 lao xuống như chim cắt. Bom nổ dọc tuyến đê biển. Đất tung lên đỏ rực. Người dân bỏ cả liềm hái, ôm trẻ con chạy xuống hầm trú ẩn.

Lâm không chạy.

Cậu cùng đội dân quân lao ra cánh đồng kéo những người bị thương vào bờ. Một quả bom rơi xuống gần bãi muối, sức ép hất cậu ngã dúi xuống ruộng. Khi đứng dậy, tai cậu ù đặc, mặt đầy bùn đất.

Tối hôm ấy, cả làng mất điện. Người ta ngồi chen kín trong nhà thờ xứ để sơ cứu cho người bị thương. Tiếng trẻ con khóc xen lẫn tiếng rên đau.

Cha Lâm ngồi im trước hiên nhà, rít từng hơi thuốc lào rồi nói:

— Chúng nó đánh kiểu này, sớm muộn trai làng cũng phải đi hết.

Lâm nhìn lên bàn thờ tổ tiên. Ánh đèn dầu hắt lên tấm ảnh anh trai mặc quân phục đã úa màu.

Đêm đó cậu viết đơn xin nhập ngũ.

Ngày tiễn quân diễn ra vào đầu đông.

Cả huyện chìm trong màn sương trắng. Những người mẹ đội khăn nâu đứng chật sân ủy ban xã. Tiếng trống, tiếng loa phát thanh hòa lẫn tiếng khóc bị cố nén lại.

Mẹ Lâm dậy từ ba giờ sáng nấu cho con bát cơm đầy hiếm hoi có thêm quả trứng gà.

Bà ngồi vá lại chiếc áo bộ đội dưới ánh đèn dầu.

— Ra ngoài ấy, thiếu gì thì thiếu, đừng để thiếu tình người nghe con.

Lâm cười:

— Con trai Hải Hậu mà mẹ. Không yếu được đâu.

Mẹ cậu không cười. Bà lấy trong túi áo ra một túi vải nhỏ.

Bên trong là nắm muối biển trắng tinh.

— Mang theo. Để nhớ quê.

Khi đoàn quân đi qua con đê làng, gió biển thổi lạnh buốt. Những cô gái đứng bên đường lặng lẽ đưa tay lau nước mắt. Trong số đó có Mai.

Mai là con gái ông giáo làng. Cô làm y tá cho trạm xá xã, nổi tiếng dịu dàng và có giọng hát chèo rất hay. Lâm và Mai lớn lên cùng nhau từ nhỏ. Những đêm mất điện, hai người từng ngồi bên bờ sông Ninh Cơ nghe tiếng sóng biển vọng xa.

Mai chạy theo đoàn quân một đoạn rồi dúi vào tay Lâm chiếc khăn tay màu xanh.

— Khi nào hòa bình… nhớ về.

Lâm định nói điều gì đó nhưng tiếng còi tập hợp vang lên. Cậu chỉ kịp gật đầu rồi quay đi.

Mai đứng nhìn theo cho đến khi bóng đoàn quân chìm hẳn trong sương.

Sau ba tháng huấn luyện, Lâm được biên chế vào đơn vị thông tin hành quân vào chiến trường Quảng Trị.

Đó là lần đầu tiên cậu biết chiến tranh thật sự khốc liệt đến thế.

Ban ngày pháo gầm rung mặt đất. Ban đêm pháo sáng trắng trời như ban ngày. Có hôm đơn vị vừa đào xong công sự thì bom B-52 dội xuống, cả quả đồi bị cày tung.

Trong hầm trú ẩn chật hẹp, những người lính trẻ thay nhau kể chuyện quê để quên sợ hãi.

Một anh lính Nghệ An hỏi:

— Quê mày có gì đẹp nhất?

Lâm đáp ngay:

— Biển. Và lúa.

— Biển ở đâu chẳng có?

Lâm lắc đầu:

— Biển Hải Hậu khác. Gió mặn lắm. Đi xa chỉ cần ngửi mùi muối là nhớ quê ngay.

Nói rồi cậu lấy trong ba lô ra túi muối mẹ cho ngày nhập ngũ. Túi vải đã sờn nhưng cậu vẫn giữ kỹ như báu vật.

Mùa hè đỏ lửa năm 1972.

Chiến trường Quảng Trị biến thành biển lửa.

Đơn vị của Lâm nhận nhiệm vụ giữ liên lạc cho một trung đoàn đang bị vây. Đêm hôm đó mưa như trút. Bom pháo nổ liên tục. Dây thông tin bị cắt nhiều lần.

Người chỉ huy quát lớn giữa tiếng đạn:

— Phải nối lại đường dây ngay! Không có liên lạc là cả tiểu đoàn bị xóa sổ!

Một chiến sĩ vừa bò đi đã hy sinh ngay mép hầm.

Không ai kịp phản ứng.

Lâm siết chặt cuộn dây điện thoại.

— Để tôi đi!

Cậu lao ra ngoài màn mưa đạn.

Bùn đất ngập đến đầu gối. Pháo sáng chớp trắng liên hồi. Tiếng máy bay rít trên đầu nghe như xé toạc bầu trời.

Lâm bò từng mét một dọc theo đường dây bị đứt. Có đoạn dây nằm giữa khoảng đất trống đầy hố bom. Mảnh pháo cắm ken đặc.

Đột nhiên một tiếng nổ dữ dội vang lên phía sau.

Sức ép hất cậu lăn xuống hố bom.

Máu chảy nóng dọc vai trái.

Nhưng cậu vẫn tiếp tục bò.

Trong đầu Lâm lúc ấy không còn tiếng bom nữa. Cậu chỉ nhớ đến cánh đồng quê nhà, nhớ tiếng mẹ gọi lúc chiều xuống, nhớ Mai đứng bên triền đê hôm tiễn quân.

Cuối cùng cậu cũng tìm được chỗ dây đứt.

Đôi bàn tay run lên vì máu và bùn, nhưng cậu vẫn nối từng mối dây trong bóng tối.

Đúng lúc đường dây được nối lại, pháo địch lại trút xuống.

Ánh chớp đỏ rực nuốt lấy khoảng đất nơi cậu nằm.

Rạng sáng hôm sau, đơn vị giữ được liên lạc và rút khỏi vòng vây thành công.

Người ta tìm thấy Lâm nằm cạnh cuộn dây điện thoại, ngực đầy đất đỏ.

Trong túi áo cậu vẫn còn chiếc khăn tay màu xanh của Mai và túi muối biển quê nhà.

Tin báo tử về tới Hải Hậu vào một ngày mưa tháng chín.

Mẹ Lâm nhận giấy báo rồi lặng người rất lâu.

Không ai nghe bà khóc.

Chiều hôm ấy bà ra cánh đồng muối một mình. Gió biển thổi trắng xóa. Bà cúi xuống bốc một nắm muối bỏ vào túi áo rồi nhìn về phía chân trời.

Người trong làng kể rằng từ ngày ấy, chiều nào bà cũng ra đê biển ngồi đến tận tối.

Mai không lấy chồng.

Cô tiếp tục làm y tá cho đến tận sau ngày đất nước thống nhất. Mỗi năm vào ngày giỗ Lâm, cô lại mang bó hoa cúc trắng đặt trước bàn thờ rồi ngồi thật lâu bên hiên nhà nhìn ra cánh đồng.

Nhiều năm sau chiến tranh, Hải Hậu đổi khác.

Đường đất ngày xưa đã thành đường nhựa. Những mái nhà rạ được thay bằng nhà ngói đỏ. Trẻ con không còn biết tiếng còi báo động là gì nữa.

Nhưng ở cuối làng Hải Chính vẫn còn một tấm bia nhỏ ghi tên những người đã hy sinh.

Trong số đó có Nguyễn Văn Lâm.

Người già trong làng mỗi khi kể chuyện chiến tranh vẫn thường nói với con cháu:

— Đất Hải Hậu được bình yên như hôm nay là nhờ lớp người đi qua thời hoa lửa ấy.

Và vào những chiều gió biển thổi qua cánh đồng muối, người ta vẫn có cảm giác như đâu đó còn bóng dáng những chàng trai năm xưa đang bước đi trên con đê cũ — tuổi trẻ mang theo mùi lúa chín, vị muối mặn và một tình yêu quê hương không bao giờ tắt.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn