Bài viết

Mùa hè đỏ lửa năm 1972

Tiếng bom đạn còn vang vọng trong đầu, tiếng thét đau đớn gọi “mẹ ơi” vẫn chập chờn trong giấc ngủ. Có 4 năm làm du kích nhưng có lẽ điều đáng nhớ lớn nhất với bà Nguyễn Thị Thu sau này chính là 81 ngày đêm lịch sử chèo đò đưa bộ đội vượt dòng Thạch Hãn.

Gia Lai10/05/2026Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Trường Đại học Quy Nhơn (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Trường Đại học Quy Nhơn)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tiếng bom đạn còn vang vọng trong đầu, tiếng thét đau đớn gọi “mẹ ơi” vẫn chập chờn trong giấc ngủ. Có 4 năm làm du kích nhưng có lẽ điều đáng nhớ lớn nhất với bà Nguyễn Thị Thu sau này chính là 81 ngày đêm lịch sử chèo đò đưa bộ đội vượt dòng Thạch Hãn.

Vượt mưa bom bão đạn đưa đồng đội qua sông

Những ngày cuối tháng 10, Quảng Trị bắt đầu vào mùa mưa, những trận mưa ào ạt khiến ruộng đồng chìm trong lũ, nước lênh đênh. Thạch Hãn dâng cao, đục ngầu chảy xiết. Những ngày mưa như thế khiến nhớ lại ký ức hơn nửa thế kỷ trước. Ngày đó, từ trên trời không chỉ đổ nước mà còn trút cả bom, đạn, dưới mặt đất thì máu, mồ hôi và nước mắt của các chiến sĩ hòa vào từng tấc đất thành cổ.

Mùa hè đỏ lửa năm 1972, bà Thu tròn 17 tuổi, tham gia lực lượng du kích tại địa phương. Ở tuổi trăng tròn, bà gặp gỡ, nên duyên với ông Nguyễn Cầu (cùng 17 tuổi), con trai ông Nguyễn Con – một ngư dân làm nghề chèo đò trên sông Thạch Hãn. Cả hai chỉ mới làm lễ đám hỏi đơn sơ, chưa kịp đám cưới thì trận chiến nổ ra. Ông Cầu vào miền Nam, bà Thu ở lại cùng bố chồng giúp bộ đội vượt sông Thạch Hãn.

“Lúc đó cả hai chúng tôi chưa là vợ chồng, chỉ mới tìm hiểu nhưng cũng đã coi nhau như vợ chồng. Tôi tham gia lực lượng du kích địa phương, cùng bố chồng ở lại để phục vụ cách mạng, may thay nhà có chiếc đò làm phương tiện để đưa các chiến sĩ vượt sông, tiếp cận thành cổ”, bà Thu nhớ lại.

Di chuyển bom đạn khiến bà Thu bây giờ “nhớ nhớ quên quên”. Thế nhưng có những ký ức không bao giờ rời khỏi trí óc: tiếng người bị thương gọi mẹ, tiếng rên la thảm thiết, và những chuyến đò đêm mà bộ đội nhiều người đi nhưng ít ai trở về.

“Kể từ khi chiến dịch bắt đầu, con đò của tôi đưa hàng ngàn chiến sĩ qua sông. Họ còn trẻ lắm, 18–20 tuổi, đa phần là sinh viên các trường đại học ngoài Hà Nội mới gác bút cầm súng. Điều day dứt nhất là tôi đưa họ đi… nhưng chẳng mấy ai trở lại”, bà Thu nghẹn ngào.

Gặp lại chiến sĩ năm xưa

Đều là những cựu chiến sĩ, những con người đã trải qua chiến tranh khốc liệt, khi gặp lại nhau ai cũng nghẹn ngào.

“Ban ngày địch đánh ác liệt, máy bay quần thảo thả bom, bắn phá. Hầu hết những chuyến đò của tôi đều phải chèo vào ban đêm. Đêm tối như mực, chỉ khi có ánh lửa từ bom đạn lóe lên mới nhìn được mặt nhau một thoáng”, bà Thu kể.

Thời điểm đó, ở khu vực gần Thành cổ Quảng Trị chỉ có duy nhất bà Thu cùng ông Con là người đưa bộ đội vượt sông. Ngoài chèo đò, cả hai còn làm người dẫn đường cho các chiến sĩ tiếp cận thành cổ. Ba chiếc đò chỉ có một, mỗi ngày đưa được khoảng 10 chuyến, mỗi chuyến chở “không quá 10 chiến sĩ”, số còn lại phải bơi vượt sông.

“Có chiến sĩ bị thương nặng lắm, được tôi đưa về vừa đến bờ, chưa kịp chuyển đến trạm quân y thì đã hy sinh. Trước khi hy sinh, họ đều ôm chặt tay gọi ‘mẹ ơi’, tôi xót xa vô cùng…”, bà Thu nói.

Chiến tranh khốc liệt chẳng thể nào kịp nhớ mặt, nhớ tên. Thế rồi mãi 46 năm sau, có một cụ ông tóc bạc vượt hàng trăm cây số từ miền Bắc vào Quảng Trị, tìm gặp lại “nữ du kích đưa đò năm xưa”.

“Đó là ông Phạm Hùng, cựu chiến sĩ thành cổ hiện đang sống tại Thái Nguyên. Gặp lại người chiến sĩ năm nào giờ tóc đã bạc phơ, tôi vui lắm nhưng cũng nghẹn ngào…”, bà Thu kể.

NỤ CƯỜI TRÊN SÔNG THẠCH HÃN

Trong Bảo tàng Thành cổ Quảng Trị, giữa vô số kỷ vật của chiến tranh như mũ rách, súng hoen gỉ… lại có một bức ảnh hiếm hoi: một cụ ông đang chèo đò, bên cạnh là nữ du kích ôm súng, phía sau là những chiến sĩ mỉm cười.

Bức ảnh do nhiếp ảnh gia Đoàn Công Tính chụp năm 1972. Ông đã mất nhiều năm để tìm lại những nhân vật trong ảnh.

“Nhận bức ảnh tôi nghẹn ngào lắm… bố tôi mất đã lâu mà không có tấm ảnh nào. Nhìn lại gương mặt, nụ cười của ông, tôi thấy thật may mắn”, ông Nguyễn Cầu chia sẻ.

Sau chiến tranh, cuộc sống trở lại bình thường. Vợ chồng bà Thu tiếp tục gắn bó với con sông Thạch Hãn, sống giản dị, nuôi dạy con cái trưởng thành.

“Các cháu, các con ạ, hãy nhớ, hãy biết ơn sự hy sinh của các anh để hôm nay có hòa bình”, bà Thu nghẹn ngào.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn