Bài viết

MÙA HOA LỬA

Mùa hè năm ấy, bầu trời quê tôi đỏ rực những vệt pháo sáng. Người ta gọi đó là “thời hoa lửa” – khi những bông hoa không nở trên cành mà nở giữa trời, bằng tiếng nổ và ánh sáng chói lòa. Tôi khi ấy mới mười sáu tuổi. Nhà tôi ở cuối làng, cạnh con sông nhỏ quanh năm nước lặng. Trước chiến tranh, buổi chiều nào tôi cũng ra bờ sông thả diều cùng anh trai

Quảng Ninh06/04/2026Đoàn Phường Liên Hòa (Đoàn Phường Liên Hòa)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Mùa hè năm ấy, bầu trời quê tôi đỏ rực những vệt pháo sáng. Người ta gọi đó là “thời hoa lửa” – khi những bông hoa không nở trên cành mà nở giữa trời, bằng tiếng nổ và ánh sáng chói lòa. Tôi khi ấy mới mười sáu tuổi. Nhà tôi ở cuối làng, cạnh con sông nhỏ quanh năm nước lặng. Trước chiến tranh, buổi chiều nào tôi cũng ra bờ sông thả diều cùng anh trai. Anh tôi hơn tôi ba tuổi, dáng người cao gầy, lúc nào cũng cười hiền. Anh bảo sau này lớn lên sẽ làm thầy giáo, dạy học cho lũ trẻ trong làng. Rồi chiến tranh đến. Một buổi sáng, loa làng vang lên gọi thanh niên lên đường. Anh tôi đứng trước sân, khoác chiếc ba lô còn mới. Mẹ tôi cứ sửa lại cổ áo cho anh mãi, còn tôi thì lặng im, chẳng nói được gì. Anh quay sang xoa đầu tôi: — Ở nhà học giỏi nhé, khi nào anh về sẽ nghe em kể. Tôi gật đầu, nhưng cổ họng nghẹn lại. Tôi không biết rằng câu nói ấy sẽ theo tôi suốt những năm dài sau đó. Những ngày anh đi, làng tôi thay đổi. Ban ngày, mọi người ra đồng, ban đêm đào hầm trú ẩn. Những con đường quen thuộc phủ đầy bụi đất, và bầu trời không còn yên tĩnh như trước. Có những đêm, pháo sáng nở rộ như những bông hoa đỏ rực, soi sáng cả cánh đồng. Một lần, tôi đang cùng mẹ gánh nước thì tiếng còi báo động vang lên. Chúng tôi vội chạy xuống hầm. Trong bóng tối chật chội, tôi nghe rõ tiếng tim mình đập. Mẹ nắm tay tôi thật chặt. Khi mọi thứ yên lặng trở lại, chúng tôi bước ra ngoài. Trên cánh đồng, ánh lửa vẫn còn le lói. Tôi nhìn lên trời, những “bông hoa lửa” vừa tắt dần, để lại khoảng trời đen thẳm. Tôi chợt nhớ đến anh. Thời gian trôi đi, thư của anh gửi về không nhiều, nhưng lần nào cũng khiến cả nhà vui mừng. Anh kể về những cánh rừng xa, về đồng đội, về những đêm hành quân dưới ánh trăng. Cuối thư, anh luôn dặn tôi học tốt và giữ gìn sức khỏe cho mẹ. Một buổi chiều, khi tôi đang ngồi học bên cửa sổ, người đưa thư ghé qua. Nhưng lần này, ông không đưa thư. Ông đứng lặng trước cổng, mắt nhìn xuống. Mẹ tôi bước ra, gương mặt bà bỗng tái đi. Tôi không nghe rõ họ nói gì, chỉ thấy mẹ khụy xuống, bàn tay run rẩy. Tôi đứng sững. Sau hôm đó, nhà tôi lặng đi như thiếu mất một phần ánh sáng. Không còn ai ngồi đan lưới bên hiên mỗi chiều. Không còn tiếng cười hiền của anh gọi tôi ra bờ sông thả diều. Nhưng mẹ tôi không khóc nhiều. Bà bảo: — Anh con đã hóa thành một vì sao trên bầu trời rồi. Tối hôm ấy, tôi ra bờ sông. Trời lại có những vệt sáng đỏ rực. Tôi nhìn lên, thấy những “bông hoa lửa” nở ra giữa trời đêm. Nhưng lần này, tôi không sợ nữa. Tôi nghĩ biết đâu, trong những ánh sáng ấy, có anh tôi đang nhìn xuống. Tôi nhặt một nhánh cỏ, cắm xuống bờ sông. Gió thổi nhẹ. Tôi thì thầm: — Anh ơi, em vẫn đang học. Khi nào anh về… em sẽ kể. Gió từ cánh đồng thổi tới, mang theo mùi đất ẩm và hương lúa non. Tôi ngẩng đầu nhìn bầu trời. Những bông hoa lửa dần tắt, để lại ánh sao lấp lánh. Tôi tin rằng, dù chiến tranh có qua đi, những mùa hoa lửa ấy vẫn sẽ sống mãi — trong ký ức, trong lòng người, và trong những câu chuyện mà chúng tôi kể lại cho mai sau.

Anh hùng Lưu Viết Thoảng - Người chiến sĩ Điện Biên năm ấy Lưu Viết Thoảng - người anh hùng đào đường hầm trên đồi A1 góp phần làm nên kỳ tích vận chuyển các khối bộc phá gần một tấn trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Chẳng biết từ bao giờ hình ảnh những người bộ đội dù trong thời chiến và thời bình đã trở thành điểm tựa vững chắc cho mỗi người dân .Không có gì khắc sâu và lịch sử như những bức hành quân của những người lính trẻ .Khi đất nước gọi họ rời bỏ làng quê, rời xa gia đình, mang theo niềm tin và tin tưởng rằng mình sẽ góp phần bảo vệ non sông .Đó là những năm tháng tồn tại và cái chết chỉ cách nhau một tích tắc .Dưới làn sóng mưa bão những chàng trai tuổi đôi mươi vẫn cười vang giữa chiến hào họ lấy tinh thần đồng đội chia nhau từng giọt nước ,từng miếng khoai giữa rừng sâu. Có người ngã xuống chưa khi chưa kịp đáp lời từ biệt nhưng đồng đội vẫn giữ lời hứa:" Hãy thắp sáng thay phần của những người đã đi xa." Những câu chuyện về lòng dũng cảm ,về sự hi sinh ,về tình yêu quê hương , đất nước vững thế được truyền lại, trở thành ánh sáng soi sáng con đường cho thấy hệ mai sau .Câu chuyện hoa lửa mà em muốn lan tỏa hôm nay chính là về người - anh hùng Lưu Viết Thoáng - người con của quê hương Cảnh Thụy anh hùng. Anh hùng Lưu Viết Thoáng Loan sinh năm ( 1926- 2008) quê ở thôn Đông ,xã cách Thủy huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Tháng 11 năm 1944, Lưu Viết Thoáng nhập ngũ . Từ đó đến Tháng 5-1944 , cụ liên tục tham gia chiến đấu trong nhiều chiến dịch .Lưu Viết Thoáng là một chiến sĩ công binh dũng cảm có nhiều sáng tạo trong việc phá bom nổ chậm nguồn góp phần bảo đảm tốt tuyến đường vận chuyển ra phía trước Trong thời gian làm đường chuẩn bị chiến dịch Điện Biên Phủ, cụ Lưu Viết Thoáng được đơn vị cử đi tháo bom lấy thuốc nổ, phá đá. Mặc dù vừa mới được điều trị từ muôi quân chuyển sang chưa có kinh nghiệm, dụng cụ này thiếu , nhưng cũng vẫn kiên trì vừa học anh em vừa mày mò nghiên cứu để hoàn thành nhiệm vụ. Có lần gặp lại Bom mới cụ Lưu Viết Thoáng bố trí anh em ở xa, một mình vào tìm cách tháo gỡ để rút kinh nghiệm cho toàn tiểu đội. Trong thời gian ngắn cụ Lưu Viết Thoáng đã củng cố tháo được 18 quả bom, lấy được 3,525kg thuốc nổ, cung cấp cho đơn vị phá đá mở đường. Thời kỳ địch đánh phá từ Sơn La đến Tuần Giáo đội phá bom của Lưu Viết Thoáng được giao nhiệm vụ phá bom nổ chậm. Cụ được giao phụ trách một tổ bám trụ trên đường quan sát và đánh dấu vị trí bom rơi. Có lần ,địch ném bốn quả bom nổ chậm không chúng mặt đường nhưng cần tháo gỡ ngay để đảm bảo an toàn cho dân công và xe pháo đi qua. Cụ Lưu Viết Thoáng đã dũng cảm dẫn đầu cùng đồng đội đào hố chim xuống hố bom đặt thuốc nổ phá bom giải quyết được kịp thời yêu cầu cấp bách của tuyến đường Tháng 4 năm 1954 để mở đầu đợt tổng công kích tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, cụ Lưu Viết Thoáng được giao nhiệm vụ phụ trách một tổ đào đường hầm , đưa một khối bộc phá lớn vào đánh sập lô cốt trung tâm Đồi A1. Cao điểm đội A1 là cử điểm quan trọng bậc nhất, cánh cửa then chốt trực tiếp bảo vệ trung tâm chỉ huy - nơi đồn trú các cơ quan đầu não của quân Pháp , trong đó có hầm chỉ huy của tướng De Castries. Việc việc chiếm được cử điểm này có ý nghĩa quyết định vào số phận của tập đoàn cử điểm Điện Biên Phủ. Vì vậy đội A1 được xác định là mục tiêu của đợt tấn công thứ hai của quân ta. Một vấn đề quan trọng trong kế hoạch tiến công A1 khiến các đồng chí chỉ huy Đại đoàn 316 và cơ quan tham mưu suy nghĩ nhiều là tìm cách đánh hầm ngầm. Nhiều phương án được đưa ra. Cuối cùng kế hoạch đào một một đường hầm chạy từ trận địa ta đến chân hầm ngầm địch rồi dùng một lượng thuốc nổ lớn đánh sập hầm được Đại đoàn 316 nhất trí và báo cáo lên Bộ chỉ huy chiến dịch. Cụ Lưu Viết Thoáng ở phân đội 83 dám đảm nhiệm nhiệm vụ quan trọng này. Đêm Đầu Tiên ba đồng chí ở quân đội 83 trực tiếp đảm nhiệm đào mở cửa đường hầm. Mới đào được một ít thì đồng đội Trung đội trưởng bộ binh làm nhiệm vụ yểm hộ cho các anh em công binh bị trúng đạn hi sinh. Đêm thứ hai ,công binh chia làm bốn tổ thay nhau nên mở tiếp cửa hầm đó do tiểu đội trưởng Lưu Viết Thoáng chỉ huy. Mở cửa hầm vào sâu được gần 1 m trung đội bộ binh yểm hộ lại bị thương vong thêm mấy đồng chí nữa. Tiếp tục vào sau anh em công binh gặp khó khăn về kỹ thuật như thiếu ánh sáng và không khí cách đào để giữ cho hướng và độ chênh của đường hầm vào đúng vị trí của hầm ngầm, cách đưa đất ra ngoài sao cho đúng vị trí vừa nhanh và không bị lộ, ... để giữ đúng hướng vận tốc độ của đường hầm , cụ Lưu Viết Thoáng có sáng kiến dùng cây hương nên đốt để làm vật chuẩn Dùng đèn pin buộc vào cọc đóng ở cửa hầm vừa để lấy hướng vừa chiếu sáng. Để cho không khí trong đường hầm bớt bớt ngọt ngạt , cụ Lưu Viết Thoáng bạn với anh em chế tạo ra đan quạt một người đào đất một người ngồi bên quạt. Hai đến ba người nằm ngửa nối tiếp nhau ở cửa hầm quạt gió lùa vào. Mỗi ca chỉ làm được khoảng 20 phút là phải chui ra khỏi hầm riêng cụ Lưu Viết Thoáng là có thể đào được khoảng giờ hàng giờ. Đường hầm đã đào xong các khối bộc phá 10 50 kg xếp lại tạo thành một quả bộc phá gần 1000 kg. Khỏi bọc phá đã đánh sập một phần hầm ngầm và lô cốt mẹ. Trung đoàn 174 xung phong đánh chiếm Đồi A1 ta làm chủ hoàn toàn A1 Đêm thứ hai ,công binh chia làm bốn tổ thay nhau nên mở tiếp cửa hầm đó do tiểu đội trưởng Lưu Viết Thoáng chỉ huy. Mở cửa hầm vào sâu được gần 1 m trung đội bộ binh yểm hộ lại bị thương vong thêm mấy đồng chí nữa. Tiếp tục vào sau anh em công binh gặp khó khăn về kỹ thuật như thiếu ánh sáng và không khí cách đào để giữ cho hướng và độ chênh của đường hầm vào đúng vị trí của hầm ngầm, cách đưa đất ra ngoài sao cho đúng vị trí vừa nhanh và không bị lộ, ... để giữ đúng hướng vận tốc độ của đường hầm , cụ Lưu Viết Thoáng có sáng kiến dùng cây hương nên đốt để làm vật chuẩn Dùng đèn pin buộc vào cọc đóng ở cửa hầm vừa để lấy hướng vừa chiếu sáng. Để cho không khí trong đường hầm bớt bớt ngọt ngạt , cụ Lưu Viết Thoáng bạn với anh em chế tạo ra đan quạt một người đào đất một người ngồi bên quạt. Hai đến ba người nằm ngửa nối tiếp nhau ở cửa hầm quạt gió lùa vào. Mỗi ca chỉ làm được khoảng 20 phút là phải chui ra khỏi hầm riêng cụ Lưu Viết Thoáng là có thể đào được khoảng giờ hàng giờ. Đường hầm đã đào xong các khối bộc phá 10 50 kg xếp lại tạo thành một quả bộc phá gần 1000 kg. Khỏi bọc phá đã đánh sập một phần hầm ngầm và lô cốt mẹ. Trung đoàn 174 xung phong đánh chiếm Đồi A1 ta làm chủ hoàn toàn A1. Với chiến công của mình, cụ Lưu Viết Thoáng được Chủ tịch nước thưởng Huân chương Quân công hàng Ba , danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân . Ngày nay mặc dù đất nước đã hòa bình cụ Lưu Viết Thoáng đã không còn nữa , nhưng bài học lịch sử về cụ - Người anh hùng đường hầm trên đồi A1 -vẫn luôn có giá trị giáo dục sâu sắc, giúp thế hệ trẻ thêm yêu nước mảnh đất Cảnh Thụy , tự hào truyền thống cha ông và ý thức được trách nhiệm bảo vệ và xây dựng quê hương, đất nước.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn