Mùi Khói Trên Bến Sông Trà
Chiều ni, mưa bụi bay lất phất ngoài hiên. Con đường bê tông chạy ngang qua xã Sông Trà giờ đã rộng rãi, xe máy chạy vù vù, không còn những ổ bom lồi lõm như hồi xưa nữa. Con bé Hạnh ngồi bên bà nội, tay ôm con mèo tam thể, mắt nhìn ra bờ sông đục ngầu phù sa.
Mùi Khói Trên Bến Sông Trà
Chiều ni, mưa bụi bay lất phất ngoài hiên. Con đường bê tông chạy ngang qua xã Sông Trà giờ đã rộng rãi, xe máy chạy vù vù, không còn những ổ bom lồi lõm như hồi xưa nữa. Con bé Hạnh ngồi bên bà nội, tay ôm con mèo tam thể, mắt nhìn ra bờ sông đục ngầu phù sa.
Nó hỏi:
— Nội ơi, hồi chiến tranh, làng mình có ai anh hùng thiệt không nội?
Bà nó im lặng một lúc lâu. Ngoài sân, mùi chè xanh mới nấu còn thơm ngai ngái. Gió đưa tiếng tre va nhau lạo xạo như tiếng chân người năm cũ.
Rồi bà chậm rãi nói:
— Có chớ con. Mà người anh hùng nhiều khi đâu cần cầm súng...
Hồi đó, Sông Trà còn nghèo dữ lắm. Ban ngày lính càn quét, ban đêm du kích mới dám mò về làng. Rặng tre đầu xóm bị bom napalm cháy xém, đứng trơ những thân đen sì như mấy cánh tay khô quắt chĩa lên trời.
Ông Hà sống trong căn nhà tranh sát mé sông. Người gầy nhom, lưng còng xuống vì năm tháng. Ông có thằng con trai tên Lộc, làm du kích trong vùng.
Thằng Lộc hồi nhỏ hiền khô. Chăn trâu ngoài bãi, nghe ai hò khoan là ngồi lặng nghe cả buổi. Lớn lên, thấy xóm làng tan hoang vì bom đạn, nó bỏ cây sáo trúc, theo đội du kích.
Mỗi lần về nhà, Lộc chỉ dám ghé chừng nửa đêm.
Có bữa, bà còn nhớ như in, trời lạnh căm. Ông Hà ngồi bên bếp tro, lùi mấy củ sắn cho con trai ăn. Lộc vừa ăn vừa nhìn cha, mắt đỏ hoe.
— Cha coi giữ sức nghe cha.
Ông Hà cười, hàm răng đã rụng gần hết:
— Tao già rồi, chết sống chi nữa. Mi còn trẻ, ráng giữ làng.
Nói vậy thôi, chớ mỗi lần nghe tiếng trực thăng quần trên núi là ông lại đứng ngồi không yên. Có đêm thức trắng, cứ ngó ra bờ sông coi bóng con mình có lội về không.
Rồi chuyện dữ cũng tới.
Một bữa sáng, lính kéo vô làng. Chúng lôi ông Hà ra giữa sân đình. Có người chỉ điểm nói ông chứa cán bộ.
Dân làng đứng nép sau hàng rào tre, không ai dám thở mạnh.
Ông Hà bị trói giật cánh khuỷu. Máu chảy xuống đôi chân gầy guộc. Tên lính gằn giọng hỏi nơi Lộc đang đóng quân.
Ông chỉ cúi đầu.
Chúng đánh.
Đánh tới khi ông ngã quỵ xuống đất.
Bà nội Hạnh hồi đó còn trẻ, đứng ôm đứa em nhỏ mà tay run bần bật. Ai cũng sợ. Sợ tới mức nghe tiếng roi quất cũng thấy lạnh tận sống lưng.
Nhưng lạ lắm.
Ông Hà không khóc.
Ông chỉ ngẩng đầu nhìn đám lính bằng đôi mắt đỏ ngầu mà cứng như đá núi.
Có lúc người ta tưởng ông sắp khai. Vì môi ông run dữ lắm. Hai bàn tay già nua co giật liên hồi.
Mà rồi ông chỉ nói được một câu:
— Tau không biết.
Tiếng nói khàn đặc như cát.
Tên lính nổi điên, tiếp tục đánh.
Đến chiều, trời đổ mưa.
Mưa tháng chín ở Hiệp Đức hồi đó lạnh buốt. Nước mưa hòa với máu chảy thành dòng đỏ lòm trước sân đình.
Ông Hà nằm đó, hơi thở đứt quãng.
Trước khi nhắm mắt, ông quay mặt về phía bờ sông. Không biết ông có nghĩ tới thằng Lộc không. Chắc có.
Vì lúc đó, khóe miệng ông tự nhiên nhếch lên như đang cười.
Mấy hôm sau, Lộc mới hay tin.
Đêm ấy nó lặng lẽ về nhà. Không khóc thành tiếng. Chỉ ngồi bên bàn thờ cha tới sáng.
Ngọn đèn dầu leo lét soi gương mặt hốc hác của người con trai mới ngoài hai mươi tuổi.
Bà nội Hạnh nhớ hoài cảnh đó.
Lộc cầm cái chén chè xanh cha nó hay uống, hai tay run dữ lắm. Nó áp mặt xuống cái áo nâu cũ của cha, vai rung lên từng chập.
Rồi nó nói nhỏ:
— Cha đừng lo. Con còn sống ngày mô, làng mình còn ngày nớ.
Sau này, Lộc tiếp tục bám trụ trong đội du kích. Người trong làng thương nó lắm. Có củ khoai cũng chừa phần. Có lon gạo cũng giấu dưới lu đem cho.
Chiến tranh khi mô cũng tàn nhẫn. Nó lấy đi mạng người dễ như gió thổi tắt ngọn đèn dầu.
Nhưng cũng chính trong những năm tháng tối tăm đó, người ta mới thấy hết cái đẹp của lòng người.
Một ông già nhà quê, chữ nghĩa không bao nhiêu, thân hình còm cõi vì đói nghèo, vậy mà tới chết vẫn giữ kín đường đi của con trai và đồng đội.
Gan dạ đâu phải chỉ là nổ súng.
Nhiều khi là đôi tay run rẩy vẫn không chịu chỉ đường cho giặc.
Là ánh mắt biết mình sắp chết mà vẫn không cúi đầu.
Bây chừ hòa bình lâu rồi.
Bến sông Trà không còn mùi khói bom nữa. Trẻ con đi học ríu rít mỗi sáng. Những rặng keo xanh phủ kín đồi. Đêm xuống chỉ còn tiếng côn trùng và ánh đèn nhà ai hắt ra vàng ấm.
Con bé Hạnh nghe bà kể xong, im thin thít.
Nó nhìn lên bàn thờ giữa nhà, nơi có tấm ảnh đen trắng của những người đã khuất.
Ngoài sân, hoa cau rụng trắng một góc đất.
Bà nội vuốt tóc cháu, giọng chậm rãi:
— Người như ông Hà hồi đó nhiều lắm con à. Họ sống âm thầm như cỏ dại, mà tới khi ngã xuống rồi, đất quê mình mới nở được những mùa yên bình ni.
Mưa ngoài hiên vẫn rơi lộp bộp.
Dòng sông dưới chân làng lặng lẽ trôi, mang theo phù sa và cả ký ức của một thời khói lửa.
Những “đóa hoa” nở ra giữa chiến tranh năm ấy, tới bây chừ, vẫn còn thơm trong lòng lớp trẻ.



