Mười năm giữ lửa cho quê hương
BÀI DỰ THI: CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA
“ Mười năm giữ lửa cho quê hương”
Trong dòng chảy của lịch sử dân tộc, có những thế hệ mà số phận của họ gắn liền với từng nhịp thở của đất nước. Ông tôi – Nguyễn Thanh Lác – là một người như thế. Ông sinh năm 1945, cái năm mà tiếng khóc chào đời của một đứa trẻ hòa cùng tiếng reo hò của ngày độc lập. Mang trên mình cái tuổi “khai sinh đất nước”, dường như định mệnh đã định sẵn cho ông một cuộc đời gắn liền với sứ mệnh bảo vệ non sông.
Năm 1965, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn cam go, chàng thanh niên Nguyễn Thanh Lác vừa tròn 20 tuổi. Sinh ra trong một gia đình ba anh em trai tại tỉnh Hà Nam (cũ) . Tiếng gọi của Tổ quốc lúc bấy giờ có sức nặng hơn bất cứ điều gì khác. Với ông, đi lính không phải là một sự lựa chọn, mà là nghĩa vụ thiêng liêng. “Tổ quốc lâm nguy, thanh niên phải lên đường”, tâm thế phấn khởi ấy đã thôi thúc ông gác lại nỗi riêng để viết đơn nhập ngũ. Tôi vẫn nhớ ông kể về cụ thân sinh – một người cha mang đậm tinh thần kiên trung của thế hệ đi trước. Giây phút tiễn con, cụ đã khóc. Những giọt nước mắt của người cha già không phải vì yếu mềm, mà vì thương và tự hào. Cụ dặn một câu mà ông nhớ mãi: “Việc tôi tôi làm, việc anh anh cứ làm”. Tình làng nghĩa xóm ngày ấy cũng thật nặng sâu, mọi người đều hứng khởi nhất là các cụ già .Ông kể lại, có bà cụ Điền đã run run dúi vào tay ông tờ 5 hào. Thời đó, 5 hào là một gia tài nhỏ, có thể mua được bao nhiêu thứ thiết yếu, nhưng với ông, nó to lớn hơn cả giá trị vật chất. Đó là hơi ấm quê hương, là niềm tin của người già gửi gắm vào vai người lính trẻ.
Bước chân hành quân đưa ông đến Đại đội 7, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 10 thuộc Bộ Tư lệnh Công binh, đóng quân tại vùng đất lửa A Lưới, Thừa Thiên Huế.Ở cái thung lũng đầy mây và thuốc súng ấy, kẻ thù không chỉ là máy bay Mỹ mà còn là cơn đói quay quắt.Tại đây, cái đói và cái chết luôn chực chờ. Có những ngày tiêu chuẩn chỉ có 2 lạng gạo, thậm chí không có lạng nào. Có khi đói quá , cả đội phải hành quân đi kiếm cái ăn. Có lúc phải “đào trộm” sắn của người dân tộc trên núi để lót dạ qua cơn đói. Gian khổ là vậy, nhưng quân đội không lúc nào ngơi nghỉ. Giữa những trận mưa bom, tiếng hát của những người lính trẻ vẫn vang lên. Họ hát cho nhau nghe để quên đi cái đói, hát để át đi tiếng bom gầm rít. Trong một lần làm nhiệm vụ bảo vệ đường giao thông dưới làn bom đạn, một mảnh bom nghiệt ngã đã cứa vào chân ông. Vết thương ấy khiến ông không thể tiếp tục chiến đấu tại tuyến 1 và phải chuyển sang đội khác vào cuối năm 1965. Với ông, vết thương năm ấy không phải là dấu chấm hết, mà là một sự chuyển mình. Nếu ở tuyến 1, ông dùng đạn để hạ kẻ thù, thì ở tuyến 2, ông dùng mồ hôi và sự tận tụy để bảo vệ sự sống cho đồng đội. Người lính sinh năm 1945 ấy đã đi qua cuộc chiến bằng cả hai vai trò: người cầm súng và người giữ lửa, để rồi hôm nay, những vết sẹo mỗi khi trái gió trở trời lại trở thành ‘tấm huân chương’ đặc biệt nhất ghi dấu một thời hoa lửa.
Cuối năm 1966, ông trực thuộc Binh đoàn 559, đóng quân tại Quảng Bình. Rời tay súng tuyến đầu, ông trở thành người “mở đường” trên cung đường 20A quyết liệt. Trong một lần ra động Phong Nha lấy xăng dầu cho xe ủi thì gặp đoàn thanh niên xung phong, đoàn ông dừng chân nói chuyện “ các ông ăn trưa thế này mà để xoong chậu sáng bóng ,máy bay đi qua đánh chết hết “. Ngỡ chỉ là nói đùa ấy thế mà đi thêm được đoạn , bom máy bay lại đánh thật, may mà lúc đó ông đứng ở khe trong vách núi nên thoát chết. Còn 2 người đồng đội khác thì không may mắn như vậy, mà theo lời ông Lác kể là tận mắt thấy 2 đồng chí bị bom đánh trúng cháy đen. Ông Thanh Lác trong lúc hồi tưởng cảm thán trời Phật che chở, cũng bồi hồi , xót thương cho người đồng đội.
Những ngày cuối chiến tranh, ông làm quản lý tài vụ tại Khang Giang – Tháp Tràm. Một công việc mà ông gọi là “thượng vàng hạ cám”, chăm lo cho bữa ăn giấc ngủ cho các chiến sĩ . Từ viên thuốc, hòm đạn đến bát cơm nóng đều qua bàn tay chăm chút của ông.Người chiến sĩ sinh năm 1945 năm ấy hiểu rằng: Bát cơm ông nấu, chiếc áo ông vá chính là sức mạnh để đồng đội ở tuyến đầu không nao núng.
Trưa ngày 30/4/1975, tin thắng trận như một cơn lốc thổi qua trạm quản lý. Ông đứng lặng, hai bàn tay run rẩy. Đất nước đã yên tiếng súng. Đứa trẻ sinh ra trong bùn máu của năm 1945, nay đã chứng kiến dân tộc nở hoa độc lập ở tuổi 30.
Câu chuyện của ông Nguyễn Thanh Lác không chỉ là hồi ức cá nhân, mà là minh chứng cho sức sống mãnh liệt của thế hệ sinh năm 1945. Dù không phải anh hùng lẫm liệt trên mặt báo, nhưng sự bền bỉ từ tuyến đầu đến vai trò hậu cần thầm lặng của ông chính là mảnh ghép tạo nên đại thắng dân tộc. Những chi tiết như tờ năm hào hay bát sắn rừng đã nhân văn hóa lịch sử, nhắc nhở chúng ta rằng hòa bình hôm nay được xây đắp từ những hy sinh đời thường nhưng vô cùng vĩ đại.



