NẮM ĐẤT Ở NGÃ BA ĐỒNG LỘC
Tôi là Phan Thị Yến, sinh năm 1951, quê ở Hà Tĩnh. Nhà tôi cách Ngã ba Đồng Lộc không xa. Từ bé, tôi đã biết con đường ấy là nơi xe cộ qua lại, nơi người dân gánh hàng, nơi những chuyến xe chở thóc, chở gỗ đi qua giữa tiếng cười nói. Nhưng khi chiến tranh ác liệt, Ngã ba Đồng Lộc trở thành điểm lửa. Máy bay địch đánh phá ngày đêm, hố bom chồng lên hố bom, đất đá bị cày nát không còn hình dạng con đường cũ.
Tôi vào thanh niên xung phong năm mười bảy tuổi. Tiểu đội của tôi toàn con gái trẻ. Chúng tôi ai cũng gầy, da sạm, tóc cắt ngắn, vai chai vì gánh đất đá. Ban ngày trú trong hầm, ban đêm ra mặt đường san lấp hố bom, cắm tiêu, dẫn xe qua trọng điểm. Có những hôm chưa kịp ăn hết nắm cơm đã nghe còi báo, lại cầm xẻng lao đi.
Trong đơn vị, tôi thân với Hồ Thị Lý, sinh năm 1950, quê Đức Thọ. Lý hay cười, giọng nói ấm, rất thích chải tóc dù tóc lúc nào cũng bết bụi đất. Cô giữ trong túi áo một chiếc gương nhỏ đã nứt một góc. Mỗi lần soi, Lý lại đùa: “Mai này hòa bình, tao phải để tóc dài tới lưng.” Chúng tôi cười vang, dù chẳng ai biết ngày mai còn sống hay không.
Một đêm tháng bảy, trọng điểm bị đánh phá dữ dội. Bom vừa dứt, chúng tôi nhận lệnh ra lấp đường ngay vì đoàn xe chở hàng sắp tới. Mặt đất còn nóng, khói bom chưa tan. Những hố bom sâu hoắm nằm giữa đường như miệng vực. Chúng tôi chia nhau gánh đất, chặt cây, lăn đá xuống hố. Mồ hôi, bùn đất, khói thuốc súng bám đầy mặt.
Tôi và Lý được phân công cắm tiêu dẫn xe qua đoạn đường vừa sửa. Công việc ấy nguy hiểm vì phải đứng ở những vị trí dễ bị phát hiện, cầm đèn tín hiệu che kín, chỉ mở ra đúng lúc xe tới. Lý đứng cách tôi chừng mấy chục mét. Trong bóng tối, tôi chỉ thấy dáng cô nhỏ bé, chiếc khăn buộc đầu lấp ló sau cọc tiêu.
Đoàn xe đầu vừa qua thì máy bay địch quay lại. Pháo sáng thả xuống làm cả ngã ba trắng lóa. Tiếng bom rít nghe lạnh sống lưng. Tôi nằm ép xuống mép đường, hai tay ôm chiếc đèn. Một loạt bom nổ phía trước, đất đá trùm lên người. Khi tôi bò dậy, tai ù đi, miệng đầy đất. Tôi gọi: “Lý ơi!” Không có tiếng trả lời.
Tôi chạy về phía vị trí của Lý. Chỗ cô đứng vừa bị bom đánh trúng, đất đá tung tóe. Tôi cùng mấy chị em đào bới bằng tay. Móng tay bật máu, nhưng không ai dừng. Cuối cùng, chúng tôi tìm thấy Lý dưới lớp đất nặng. Cô đã hy sinh. Trong tay cô vẫn giữ chiếc đèn tín hiệu. Ngọn đèn đã vỡ, nhưng lòng bàn tay cô còn siết rất chặt.
Tôi ngồi bên bạn, nước mắt không rơi được. Tôi chỉ thấy cổ họng nghẹn lại. Trong túi áo Lý, chiếc gương nhỏ vẫn còn. Mặt gương nứt thêm một vết dài, dính đầy đất đỏ. Tôi lau nó bằng vạt áo, rồi cất đi. Từ hôm ấy, chiếc gương trở thành kỷ vật tôi mang theo suốt những năm còn lại của chiến tranh.
Con đường đêm ấy vẫn thông. Đoàn xe vẫn vượt qua Ngã ba Đồng Lộc. Tôi đứng vào vị trí của Lý, cầm chiếc đèn khác dẫn xe qua, lòng đau như có lửa đốt. Mỗi chiếc xe đi qua, tôi lại nghĩ: Lý ơi, xe qua rồi. Mình làm được rồi.
Sau hòa bình, tôi nhiều lần trở lại Ngã ba Đồng Lộc. Nơi từng là hố bom nay đã có cây xanh, có đường rộng, có những đoàn người đến thắp hương tưởng niệm. Tôi thường cúi xuống lấy một nắm đất đặt lên lòng bàn tay. Đất ở đó màu nâu đỏ, bình thường như bao nơi khác, nhưng với tôi, nó có hơi ấm của bạn bè, của tuổi trẻ, của những người đã ngã xuống để con đường không tắc.
Tôi vẫn giữ chiếc gương của Lý. Nó không còn soi rõ mặt người, nhưng soi rất rõ một thời hoa lửa. Trong đó, tôi thấy chúng tôi của tuổi mười tám, tóc ngắn, vai gầy, chân lấm bùn, nhưng mắt sáng và lòng không lùi bước. Có những người không kịp để tóc dài như mơ ước, không kịp mặc áo cưới, không kịp trở về quê. Họ hóa thành đất, thành đường, thành những bông hoa lửa bất tử trên Ngã ba Đồng Lộc.



