Nắm đất Vũng Rô của người Thuyền trưởng anh hùng
Nắm đất Vũng Rô của người Thuyền trưởng anh hùngTrong một lần gặp Anh hùng LLVTND Hồ Đắc Thạnh, nguyên Thuyền trưởng Tàu HQ671, nguyên mẫu nhân vật chính trong bộ phim truyền hình “Những người lính biển”, đoàn cán bộ Bảo tàng Hải quân được ông kể lại những hành trình vận tải gian nan, thử thách của tàu “không số”. Trong đó, câu chuyện về “Nắm đất Vũng Rô” đã gợi lại nhiều kỷ niệm đẹp về chuyến hàng đúng dịp Tết Ất Tỵ năm 1965 ở Vũng Rô của đoàn cán bộ, thủy thủ tàu C41.
Năm 1964, trước những thất bạt nặng nề ở miền Nam, đế quốc Mỹ từng bước leo thang cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc nhằm làm suy yếu sức mạnh hậu phương lớn, ngăn chặn, phong tỏa các con đường chi viện từ miền Bắc vào miền Nam. Địch đã dùng lực lượng lớn tàu thuyền, máy bay và phương tiện chiến tranh hiện đại để ngăn chặn, nhưng những con tàu “không số” vẫn đưa hàng tới các kênh rạch, sông biển miền Nam từ vùng biển Khu 5 đến mũi Cà Mau. Từ tháng 1/1964 đến tháng 2/1965, đã có 89 chuyến tàu chở được 4.919 tấn hàng vào các bến Cà Mau, Trà Vinh, Bến Tre, Bà Rịa-Vũng Tàu, Bình Định trong đó có 4 chuyến vào bến Vũng Rô, tỉnh Phú Yên. Cuối năm 1964, sau hai chuyến tàu vào bến Vũng Rô (Phú Yên) thắng lợi, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Hải quân Quân chủng quyết định Tàu C41 khắc phục khó khăn tiếp tục đưa hàng chi viện vào bến Vũng Rô đúng giao thừa Tết Ất Tỵ. Ở tuổi ngoài 80, mái tóc Anh hùng Hồ Đắc Thạnh bạc màu thời gian, nhưng phong cách của ông vẫn đậm chất lính biển, bình dị mà hào phóng. Bằng giọng trầm ấm, ông kể: “Rời Sở Chỉ huy Quân chủng, lòng tôi dâng trào một cả xúc đặc biệt đan xen giữa niềm vui và nỗi lo. Vui vì được tiếp tục nhiệm vụ đưa tàu chở vũ khí về quê hương, được gặp lại đồng chí, đồng bào trong Tết cổ truyền của dân tộc. Còn lo, hôm nay đã là 20 tháng Chạp âm lịch, làm sao chuẩn bị tốt mọi mặt để tàu đến Vũng Rô vào đúng đêm giao thừa”. 
Anh hùng Hồ Đắc Thạnh phát biểu tại Lễ đón bằng công nhận Di tích lịch sử Vũng Rô,
xã Hòa Xuân Nam, huyện Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên, tháng 6/1997. Chuyến đi đó, tàu nhận nhiệm vụ chở 55 tấn vũ khí vào bến Vũng Rô, đồng chí Hồ Đắc Thạnh làm Thuyền trưởng, đồng chí Trần Hoàng Chiếu là Chính trị viên. Cả Chi ủy, Chi bộ, cán bộ thuyền tập trung lo chuẩn bị. Trong một cuộc họp toàn tàu, vấn đề là làm sao đưa tàu cập bến đúng lúc giao thừa, tạo sự bất ngờ đối với địch, nhiều biện pháp được nêu lên và thông qua quyết tâm thư gửi lên cấp trên. Ông kể tiếp: “Khi cuộc họp sắp kết thúc, bất ngờ từ hàng ghế thứ hai, một cánh tay giơ lên xin phát biểu ý kiến. Đó là đồng chí Trần Văn Nhợ, người lính mà anh em trong tàu thường gọi bằng cái tên thân mật “bố già”. Đồng chí nói “Tàu ta đi nhiều chuyến, đưa hàng vào nhiều bến nhưng được đi vào dịp Tết thì thật là hiếm có. Vì vậy, tôi đề nghị tàu ta nên chuẩn bị cái gì để khi vào bến, ta cùng anh em ở bến ăn Tết”. Tiếng hoan hô đồng tình vang dậy. Thế là ngoài việc cho tàu nhận vũ khí, theo dõi đài nghe thời tiết, nắm tình hình địch, chuẩn bị hậu cần… một bộ phận anh em đi mua nếp về gói bánh chưng, bánh tét lo quà Tết”. Công tác chuẩn bị cho chuyến đi hoàn thành sớm hơn dự tính một ngày. Ngoài hàng chi viện, quà đón xuân vui Tết có bánh chưng, bánh tét, chè, thuốc lá và một cành đào để khi vào bến cùng bến ăn Tết. “Thấy một hòm gỗ, tôi hỏi đồng chí Nguyễn Hồng Lỳ: Cái hòm gỗ này có danh ghi trong phiếu chuyển hàng cho bến không? Đồng chí Phan Nhạn - Máy trưởng, người được toàn tàu cử ra đảm nhiệm công việc chuẩn bị quà Têt vừa cười vừa nói: “Báo cáo Thuyền trưởng, cái thùng này do tàu ta xuất phiếu thôi ạ!” Cả tàu cười vui. Thì ra, đó là thùng gỗ chứa quà Tết”. – ông Thạnh nhớ lại. Chiếc thùng gỗ đựng quà Tết chiếm một diện tích rất nhỏ trong khoang hàng của tàu nhưng nó chứa đựng bao nhiêu tình cảm của cán bộ, chiến sĩ Tàu C41 đa phần quê Phú Yên. Bằng số tiền dành dụm, họ đã gửi gắm tình cảm của mình qua từng món quà Tết quê hương trong chuyến đi ý nghĩa ấy. Ngày 28/1/1965, tại cảng Bính Động (Hải Phòng), Tàu C41 rời bến trong mùa gió Đông Bắc rét buốt. Tư lệnh Quân chủng, Đoàn trưởng và Chính ủy Đoàn 125 ra tiễn và gửi lời chúc Tàu C41 hành trình thuận buồm xuôi gió. Bộ Tư lệnh chờ đón tin thắng lợi báo về. Tình cảm hậu phương làm ấm lòng các chiến sĩ trên đường về tiền tuyến lớn. Sau 3 ngày vượt sóng to gió lớn, thời tiết xấu, lách tránh các tàu tuần tiễu của địch, trưa ngày 30 tháng Chạp, Tàu C41 chuyển hướng vào bờ. Đây là tuyến đi căng thẳng nhất của lộ trình. Tàu có thể vào tới bờ nhưng cũng có thể gặp địch, nên xác định sẵn sàng chiến đấu. Vì phải tránh tàu đánh cá của dân nên đến 17 giờ, tàu còn cách bờ 60 hải lý, khả năng vào bến trễ giờ, do đó phải sử dụng tốc độ dự bị. 23 giờ 50 phút ngày 1/2/1965, tàu thả trôi giữa vịnh Vũng Rô. Nhớ lại giây phút cập bờ, ông kể: “Tôi cho thả xuồng và cử người vào bến tìm bộ phận đón. Đúng lúc đó thuyền của lực lượng bến cập mạn tàu. Cán bộ, chiến sĩ của ta vui mừng ôm hôn các đồng chí ở bến. Tôi ôm anh Sáu (Chỉ huy bến) mà hai hàng nước mắt chảy ròng và nghẹn ngào không nói nên lời. Bỗng từ phía bờ, hàng loạt súng pháo đủ các cỡ nổ vang đan chéo bầu trời. Những chiếc đèn dù xanh đỏ từ đồn dốc Pơ Tý phụt lên treo lơ lửng một khoảng trời Vũng Rô”. Giao thừa xuân Ất Tỵ đã đến, từ dưới phòng báo vụ vang lên lời Bác Hồ chúc tết. Sáng mồng một Tết dưới vòm lá ngụy trang của tàu đã diễn ra cuộc liên hoan mừng xuân Ất Tỵ. Bến và tàu cùng vui Tết. Trong niềm vui chứa chan tình cảm, Thuyền trưởng Thạnh thay mặt cán bộ, chiến sĩ chúc Tết các đồng chí cán bộ, chiến sĩ và dân công của bến, chúc quân dân tỉnh nhà năm mới giành được những thắng lợi to lớn hơn như thư chúc Tết của Bác Hồ. Tiếng pháo tay nhẹ nhàng để giữ bí mật. Một đồng chí nữ gương mặt ửng hồng đứng lên thay mặt đồng bào địa phương chúc Tết anh em thủy thủ tàu. Cô nói: “Đảng, Bác Hồ, đồng bào miền Bắc lo cho miền Nam từng khẩu súng, viên đạn, bát cơm, viên thuốc. Các anh thủy thủ vượt qua sóng to gió lớn, đối mặt với quân thù vận chuyển hàng chi viện cho miền Nam, quê hương Phú Yên quyết xứng đáng với nghĩa tình cao cả đó”. Tối mồng Một, tàu và bến bốc hàng. Chiếc cầu tàu làm tạm bằng cây rừng không đủ sức cho số đông người đi lại nên hầu hết các anh chị em dân công phải dầm mình dưới nước để chuyển hàng. Hàng bốc dưới tàu lên là vũ khí, thuốc men; hàng trên bờ xuống là cát dằn tàu để giữ tàu ổn định khi ra khơi gặp sóng to gió lớn.
Nắm đất Vũng Rô trưng bày tại Bảo tàng Hải quân. Từ trong đêm tối, một thiếu nữ cầm trong tay gói nhỏ được bọc cẩn thận bằng chiếc khăn tay tìm gặp Thuyền trưởng Thạnh và nói: “Bà con Phú Yên gửi các anh nắm đất Vũng Rô, mảnh đất kiên cường bất khuất, giặc cày đi xéo lại nhiều lần, bụng đói phải ăn trái sung thay cơm, gạo nhưng vẫn một lòng theo Đảng, Bác Hồ. Nay có súng đạn của miền Bắc chi viện, chúng em sẽ lập nhiều chiến công”. Ông xúc động: “Giây phút bùi ngùi, cầm nắm đất Vũng Rô trong tay, tôi như ôm cả Phú Yên quê hương ruột thịt”. Tàu C41 rời bến Vũng Rô vào 3 giờ sáng ngày 3/2/1965 (Tức mồng Hai Tết Ất Tỵ). Đồng chí Sáu ôm lấy từng thủy thủ và tiễn đưa lưu luyến. Tay siết chặt tay, người ra đi và người ở lại. Những hàng nước mắt tuôn trào, những lời chúc: “Lên đường thuận buồm xuôi gió, ở lại mạnh khỏe, chiến đấu hăng say, hứa hẹn có ngày gặp lại”. Thuyền trưởng ấn mạnh tay chuông, con tàu lướt sóng ra khơi. Phía sau con tàu là Vũng Rô, dải đất Phú Yên quê hương, đó là mùa xuân Ất Tỵ. Đã gần nửa thế kỷ, dù năm tháng qua đi, nhưng kỷ niệm về cái Tết ở Vũng Rô còn in đậm trong tôi không bao giờ phai nhạt trong tâm trí người thuyền trưởng anh hùng. Ông đã nhiều lần trở về thăm lại bến Vũng Rô, nơi 3 lần chỉ huy Tàu C41 chở vũ khí cập bến để chi viện chiến trường miền Nam, được gặp lại nhiều đồng chí cán bộ, dân quân bến năm xưa và được gặp nữ dân quân Nguyễn Thị Tản, người gửi nắm đất Vũng Rô cho ông mang ra Bắc. Kỷ vật ấy hiện được trưng bày trang trọng tại Bảo tàng Hải quân, còn hình ảnh người nữ dân công trao nắm đất cho vị thuyền trưởng cũng đã được tái hiện bằng nghệ thuật điêu khắc tượng đồng đặt tại Nhà truyền thống Lữ đoàn 125./.Thanh Hằng – Bảo tàng Hải quân

Anh hùng Hồ Đắc Thạnh phát biểu tại Lễ đón bằng công nhận Di tích lịch sử Vũng Rô,
xã Hòa Xuân Nam, huyện Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên, tháng 6/1997. Chuyến đi đó, tàu nhận nhiệm vụ chở 55 tấn vũ khí vào bến Vũng Rô, đồng chí Hồ Đắc Thạnh làm Thuyền trưởng, đồng chí Trần Hoàng Chiếu là Chính trị viên. Cả Chi ủy, Chi bộ, cán bộ thuyền tập trung lo chuẩn bị. Trong một cuộc họp toàn tàu, vấn đề là làm sao đưa tàu cập bến đúng lúc giao thừa, tạo sự bất ngờ đối với địch, nhiều biện pháp được nêu lên và thông qua quyết tâm thư gửi lên cấp trên. Ông kể tiếp: “Khi cuộc họp sắp kết thúc, bất ngờ từ hàng ghế thứ hai, một cánh tay giơ lên xin phát biểu ý kiến. Đó là đồng chí Trần Văn Nhợ, người lính mà anh em trong tàu thường gọi bằng cái tên thân mật “bố già”. Đồng chí nói “Tàu ta đi nhiều chuyến, đưa hàng vào nhiều bến nhưng được đi vào dịp Tết thì thật là hiếm có. Vì vậy, tôi đề nghị tàu ta nên chuẩn bị cái gì để khi vào bến, ta cùng anh em ở bến ăn Tết”. Tiếng hoan hô đồng tình vang dậy. Thế là ngoài việc cho tàu nhận vũ khí, theo dõi đài nghe thời tiết, nắm tình hình địch, chuẩn bị hậu cần… một bộ phận anh em đi mua nếp về gói bánh chưng, bánh tét lo quà Tết”. Công tác chuẩn bị cho chuyến đi hoàn thành sớm hơn dự tính một ngày. Ngoài hàng chi viện, quà đón xuân vui Tết có bánh chưng, bánh tét, chè, thuốc lá và một cành đào để khi vào bến cùng bến ăn Tết. “Thấy một hòm gỗ, tôi hỏi đồng chí Nguyễn Hồng Lỳ: Cái hòm gỗ này có danh ghi trong phiếu chuyển hàng cho bến không? Đồng chí Phan Nhạn - Máy trưởng, người được toàn tàu cử ra đảm nhiệm công việc chuẩn bị quà Têt vừa cười vừa nói: “Báo cáo Thuyền trưởng, cái thùng này do tàu ta xuất phiếu thôi ạ!” Cả tàu cười vui. Thì ra, đó là thùng gỗ chứa quà Tết”. – ông Thạnh nhớ lại. Chiếc thùng gỗ đựng quà Tết chiếm một diện tích rất nhỏ trong khoang hàng của tàu nhưng nó chứa đựng bao nhiêu tình cảm của cán bộ, chiến sĩ Tàu C41 đa phần quê Phú Yên. Bằng số tiền dành dụm, họ đã gửi gắm tình cảm của mình qua từng món quà Tết quê hương trong chuyến đi ý nghĩa ấy. Ngày 28/1/1965, tại cảng Bính Động (Hải Phòng), Tàu C41 rời bến trong mùa gió Đông Bắc rét buốt. Tư lệnh Quân chủng, Đoàn trưởng và Chính ủy Đoàn 125 ra tiễn và gửi lời chúc Tàu C41 hành trình thuận buồm xuôi gió. Bộ Tư lệnh chờ đón tin thắng lợi báo về. Tình cảm hậu phương làm ấm lòng các chiến sĩ trên đường về tiền tuyến lớn. Sau 3 ngày vượt sóng to gió lớn, thời tiết xấu, lách tránh các tàu tuần tiễu của địch, trưa ngày 30 tháng Chạp, Tàu C41 chuyển hướng vào bờ. Đây là tuyến đi căng thẳng nhất của lộ trình. Tàu có thể vào tới bờ nhưng cũng có thể gặp địch, nên xác định sẵn sàng chiến đấu. Vì phải tránh tàu đánh cá của dân nên đến 17 giờ, tàu còn cách bờ 60 hải lý, khả năng vào bến trễ giờ, do đó phải sử dụng tốc độ dự bị. 23 giờ 50 phút ngày 1/2/1965, tàu thả trôi giữa vịnh Vũng Rô. Nhớ lại giây phút cập bờ, ông kể: “Tôi cho thả xuồng và cử người vào bến tìm bộ phận đón. Đúng lúc đó thuyền của lực lượng bến cập mạn tàu. Cán bộ, chiến sĩ của ta vui mừng ôm hôn các đồng chí ở bến. Tôi ôm anh Sáu (Chỉ huy bến) mà hai hàng nước mắt chảy ròng và nghẹn ngào không nói nên lời. Bỗng từ phía bờ, hàng loạt súng pháo đủ các cỡ nổ vang đan chéo bầu trời. Những chiếc đèn dù xanh đỏ từ đồn dốc Pơ Tý phụt lên treo lơ lửng một khoảng trời Vũng Rô”. Giao thừa xuân Ất Tỵ đã đến, từ dưới phòng báo vụ vang lên lời Bác Hồ chúc tết. Sáng mồng một Tết dưới vòm lá ngụy trang của tàu đã diễn ra cuộc liên hoan mừng xuân Ất Tỵ. Bến và tàu cùng vui Tết. Trong niềm vui chứa chan tình cảm, Thuyền trưởng Thạnh thay mặt cán bộ, chiến sĩ chúc Tết các đồng chí cán bộ, chiến sĩ và dân công của bến, chúc quân dân tỉnh nhà năm mới giành được những thắng lợi to lớn hơn như thư chúc Tết của Bác Hồ. Tiếng pháo tay nhẹ nhàng để giữ bí mật. Một đồng chí nữ gương mặt ửng hồng đứng lên thay mặt đồng bào địa phương chúc Tết anh em thủy thủ tàu. Cô nói: “Đảng, Bác Hồ, đồng bào miền Bắc lo cho miền Nam từng khẩu súng, viên đạn, bát cơm, viên thuốc. Các anh thủy thủ vượt qua sóng to gió lớn, đối mặt với quân thù vận chuyển hàng chi viện cho miền Nam, quê hương Phú Yên quyết xứng đáng với nghĩa tình cao cả đó”. Tối mồng Một, tàu và bến bốc hàng. Chiếc cầu tàu làm tạm bằng cây rừng không đủ sức cho số đông người đi lại nên hầu hết các anh chị em dân công phải dầm mình dưới nước để chuyển hàng. Hàng bốc dưới tàu lên là vũ khí, thuốc men; hàng trên bờ xuống là cát dằn tàu để giữ tàu ổn định khi ra khơi gặp sóng to gió lớn.

Nắm đất Vũng Rô trưng bày tại Bảo tàng Hải quân. Từ trong đêm tối, một thiếu nữ cầm trong tay gói nhỏ được bọc cẩn thận bằng chiếc khăn tay tìm gặp Thuyền trưởng Thạnh và nói: “Bà con Phú Yên gửi các anh nắm đất Vũng Rô, mảnh đất kiên cường bất khuất, giặc cày đi xéo lại nhiều lần, bụng đói phải ăn trái sung thay cơm, gạo nhưng vẫn một lòng theo Đảng, Bác Hồ. Nay có súng đạn của miền Bắc chi viện, chúng em sẽ lập nhiều chiến công”. Ông xúc động: “Giây phút bùi ngùi, cầm nắm đất Vũng Rô trong tay, tôi như ôm cả Phú Yên quê hương ruột thịt”. Tàu C41 rời bến Vũng Rô vào 3 giờ sáng ngày 3/2/1965 (Tức mồng Hai Tết Ất Tỵ). Đồng chí Sáu ôm lấy từng thủy thủ và tiễn đưa lưu luyến. Tay siết chặt tay, người ra đi và người ở lại. Những hàng nước mắt tuôn trào, những lời chúc: “Lên đường thuận buồm xuôi gió, ở lại mạnh khỏe, chiến đấu hăng say, hứa hẹn có ngày gặp lại”. Thuyền trưởng ấn mạnh tay chuông, con tàu lướt sóng ra khơi. Phía sau con tàu là Vũng Rô, dải đất Phú Yên quê hương, đó là mùa xuân Ất Tỵ. Đã gần nửa thế kỷ, dù năm tháng qua đi, nhưng kỷ niệm về cái Tết ở Vũng Rô còn in đậm trong tôi không bao giờ phai nhạt trong tâm trí người thuyền trưởng anh hùng. Ông đã nhiều lần trở về thăm lại bến Vũng Rô, nơi 3 lần chỉ huy Tàu C41 chở vũ khí cập bến để chi viện chiến trường miền Nam, được gặp lại nhiều đồng chí cán bộ, dân quân bến năm xưa và được gặp nữ dân quân Nguyễn Thị Tản, người gửi nắm đất Vũng Rô cho ông mang ra Bắc. Kỷ vật ấy hiện được trưng bày trang trọng tại Bảo tàng Hải quân, còn hình ảnh người nữ dân công trao nắm đất cho vị thuyền trưởng cũng đã được tái hiện bằng nghệ thuật điêu khắc tượng đồng đặt tại Nhà truyền thống Lữ đoàn 125./.Thanh Hằng – Bảo tàng Hải quân



