NAM DƯỢC TRỊ NAM NHÂN
Tuệ Tĩnh (tên thật là Nguyễn Bá Tĩnh), sống vào thời Trần. Từ nhỏ, ông đã mồ côi cha mẹ và được gửi vào chùa ăn học. Lớn lên, chứng kiến cảnh nhân dân nghèo khổ thường xuyên bị bệnh tật hoành hành mà không có tiền mua thuốc phương Bắc đắt đỏ, ông đã quyết tâm nghiên cứu y học để cứu người. Ông dành trọn đời mình để lên rừng, xuống biển tìm kiếm các loại cây cỏ, thảo mộc quen thuộc tại Việt Nam để chế thành thuốc. Ông đúc kết nên tư tưởng y học nổi tiếng: "Nam dược trị Nam nhân" (Thuốc nam chữa bệnh cho người Nam) — khẳng định cây cỏ trên chính quê hương mình hoàn toàn có thể trị khỏi bệnh cho người dân Việt. Năm 55 tuổi, nhờ tài chữa bệnh lừng lẫy, ông bị nhà Minh (Trung Quốc) bắt đưa sang Trung Quốc để chữa bệnh cho hoàng tộc. Tại đây, ông chữa khỏi bệnh cho Tống Thị Hoàng hậu và được vua Minh phong làm Đại y Thiền sư. Dù được triều đình nhà Minh ban thưởng nhiều gấm vóc, lụa là và giữ lại làm quan, tâm trí ông lúc nào cũng đau đáu hướng về quê nhà. Biết mình khó có cơ hội trở về đất mẹ, trước khi qua đời ở nơi xứ người, ông đã dặn lại người đời sau khắc lên bia mộ của mình dòng chữ: "Ai về nước Nam cho tôi về với."
Tuệ Tĩnh (tên thật là Nguyễn Bá Tĩnh), sống vào thời Trần. Từ nhỏ, ông đã mồ côi cha mẹ và được gửi vào chùa ăn học. Lớn lên, chứng kiến cảnh nhân dân nghèo khổ thường xuyên bị bệnh tật hoành hành mà không có tiền mua thuốc phương Bắc đắt đỏ, ông đã quyết tâm nghiên cứu y học để cứu người.
Ông dành trọn đời mình để lên rừng, xuống biển tìm kiếm các loại cây cỏ, thảo mộc quen thuộc tại Việt Nam để chế thành thuốc. Ông đúc kết nên tư tưởng y học nổi tiếng: "Nam dược trị Nam nhân" (Thuốc nam chữa bệnh cho người Nam) — khẳng định cây cỏ trên chính quê hương mình hoàn toàn có thể trị khỏi bệnh cho người dân Việt.
Năm 55 tuổi, nhờ tài chữa bệnh lừng lẫy, ông bị nhà Minh (Trung Quốc) bắt đưa sang Trung Quốc để chữa bệnh cho hoàng tộc. Tại đây, ông chữa khỏi bệnh cho Tống Thị Hoàng hậu và được vua Minh phong làm Đại y Thiền sư.
Dù được triều đình nhà Minh ban thưởng nhiều gấm vóc, lụa là và giữ lại làm quan, tâm trí ông lúc nào cũng đau đáu hướng về quê nhà. Biết mình khó có cơ hội trở về đất mẹ, trước khi qua đời ở nơi xứ người, ông đã dặn lại người đời sau khắc lên bia mộ của mình dòng chữ:
"Ai về nước Nam cho tôi về với."



