Nam Trung Bộ kiên cường trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến (1945–1946)
Cuối năm 1945, trước sự tái xâm lược của thực dân Pháp, Hồ Chí Minh đã gửi thư động viên quân dân Nam Trung Bộ, khẳng định niềm tin vào sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc. Tại mặt trận Nha Trang và các tỉnh Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, quân dân ta thực hiện “vườn không nhà trống”, chuyển từ phòng ngự trận tuyến sang chiến tranh du kích, bảo toàn lực lượng và tiêu hao địch. Trước các cuộc tiến công từ Buôn Ma Thuột và Đà Lạt đầu năm 1946, lực lượng kháng chiến chủ động rút lui chiến lược, giữ v
Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến cuộc chiến đấu của quân dân Nam Trung Bộ. Tháng 12 năm 1945 Người gởi thư cho các chiến sĩ và đồng bào:
"Từ ba tháng nay, các anh chị em đã đổ xương máu để giữ từng tấc đất của Tổ quốc. Tôi cũng như bao nhiêu đồng bào ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ đã bao nhiều lần tức giận khi nghe bọn thực dân Pháp chà đạp lên miếng đất của ông cha ta, giết hại nòi giống ta. Đã bao nhiêu lần phấn khởi khi nghe những chiến công oanh liệt do những vị vô danh và hữu danh anh hùng của dân tộc ta tạo nên. Bao nhiêu lần hồi hộp, có thể khóc được, trước những gương hy sinh vô cùng can đảm của những người con yêu Tổ quốc. Do đó tôi càng tin chắc rằng: Với một quốc gia có những đứa con hy sinh như thế, đã có một khối toàn dân đoàn kết như thế, nước ta nhất định không thể bị mất lại một lần nữa" (thư lưu trữ tại phòng lịch sử quân sự Quân khu 5).
Nhận được thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân dân Nam Trung Bộ càng phấn khởi tin tưởng, càng sôi sục lòng căm thù quân xâm lược, nỗ lực chiến đấu để lập chiến công.
Ở mặt trận Nha Trang, từ cuối tháng 12 năm 1945, quân Pháp được thiết giáp hạm Ri-sơ-li-ơ đến chi viện (có pháo nặng 130 ly) bắn phá vào trận địa ta và vùng dân cư từ phía tây Nha Trang đến đèo Rù Rì. Thỉnh thoảng cũng bắn pháo vào Ninh Hòa - Vạn Giả. Một hôm trên đường từ Ninh Hòa vào Nha Trang để truyền đạt chủ trương của Ủy ban quân chính Nam Trung Bộ cho các đồng chí quân chính Nha Trang, địch tâp trung bắn phá dữ dội. Xe tôi phải chạy lên đường Đắc Lộ, Đại Điền để qua đò vào thành Khánh Hòa. Lần đầu tiên đập vào mắt tôi cảnh đồng bào tản cư lánh giặc, thực hiện vườn không nhà trống.
Từng đoàn người mang gánh, rương, hòm, thúng mủng, nồi niêu, chăn chiếu quần áo, tay xách nách mang. Có phụ nữ gánh một đầu thúng là thóc gạo, một đầu thúng là con thơ. Cũng có chị đi tản cư đẻ rớt giữa đường không nhà, không cửa. Tôi nhận thấy khuyết điểm của mình, của Mặt trận Việt Minh, chưa kịp thời hướng dẫn cho địa phương lãnh đạo, làm cho đồng bào lâm vào cảnh gieo neo khốn khổ.
Qua đến thành Khánh Hồạ, gặp các đồng chí lãnh đạo địa phương, tôi yêu cầu phải khẩn trương tổ chức và hướng dẫn cho cấp huyện, xã đưa đồng bào theo từng xóm thôn, cùng đến ở một xóm thôn an toàn và động viên đồng bào tại chỗ phải thương yêu giúp đỡ đùm bọc lẫn nhau mới có thể kháng chiến lâu dài.
Sau đó tôi trình bày nhận định của Ủy ban quân chính Nam Trung Bộ và sự chỉ đạo của cấp trên phải bảo toàn lực lượng kháng chiến lâu dài với các đồng chí lãnh đạo Khánh Hoa và các đồng chí trong ban chỉ huy mặt trận. Ta không thể giữ mãi cách đánh có trận tuyến, mà phải chuẩn bị cho mỗi khu vực có lực lượng vũ trang, dựa vào dân và núi rừng tiến hành đánh du kích.
Con đại bộ phận lực lượng lần lượt rút về hậu phương củng cố. Mặc dù địch tập trung bom đạn đánh phá ác liệt, mặt trận Nha Trang vẫn tiếp tục chiến đấu tiêu hao kiềm chê địch giữ vững trên tuyến Cây Da - Quán Giáng, đường xe lửa, đầu cầu sắt và bắc cầu Xóm Bóng trong thời gian hơn một tháng, bảo đảm các đơn vị ở phía Nam lần lượt chuyển ra.
Đầu năm 1946, Trung ương có ý định tổ chức Ủy ban kháng chiến miền Nam Việt Nam. Đồng chí Tạo đã vào Ninh Hòa trao đổi với chúng tôi để tổ chức chỉ huy sở. Anh Trương Quang Giao trình bày tình hình địch ta và thấy rằng lập Ủy ban kháng chiến miền Nam Việt Nam là không thích hợp vì khả năng thông tin liên lạc tiếp tế chiến trường không đảm bảo để chỉ huy.
Sau đó tổ chức thành hai Ủy ban:
- Ủy ban kháng chiến Nam Bộ bố trí chỉ huy sở ở Phú Yên.
- Ủy ban kháng chiến Nam Trung Bộ bố trí chỉ huy sở ở Quảng Ngãi.
Anh Chánh điện tôi ra báo cáo tình hình thì cũng là lúc quân Pháp - Nhật bắt đầu mở cuộc tấn công. Cánh quân phía tây xuất phát từ Buôn Ma Thuột tiến theo đường 21, quân ta chặn đánh nhiều trận tiêu hao dọc đường và chặn đánh quyêt liệt, diệt nhiều bộ binh và dùng chai xăng tạc đạn đốt cháy nhiều xe cơ giới của địch trên đèo Phượng Hoàng. Ngày 26 tháng 1 năm 1946, địch dừng lại Ma đrắc.
Cánh quân phía nam xuât phát từ Đà Lạt, ngày 28 tháng 1 năm 1946 tấn công phòng tuyến ta tại Trại Mát Phi-nom, Đơ-răng rồi theo đường 11 tiến chiếm Tháp Chàm, Phan Rang, chia một bộ phận tấn công vào Phan Thiết. Một cánh tiến đến Cam Ranh và suối Dầu thì dừng lại. Quân dân hai tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận làm vườn không nhà trống và bám đánh diệt nhiều địch trên dọc đường.
Ngày 29 tháng 1 năm 1946, cánh quân Pháp đánh thủng phòng tuyên đèo Phượng Hoàng tiến đến Ninh Hòa và tiến vào phối hợp với cánh quân phía nam giải vây thành phố Nha Trang.
Lực lượng ta chủ động, theo kế hoạch chuyển quân rút theo đường núi Đá Ban - Dốc Mõ về Phú Yên tập kết.
Ủy ban quân chính Nam Trung Bộ được chấm dứt nhiệm vụ.
Từ đây tôi bị cuốn hút theo hai cuộc chiến tranh. Đi mãi trong hàng ngủ Quân đội nhân dân Việt Nam quang vinh của Tổ quốc.
Kể từ những ngày đầu tháng chín, nhận chiếc băng đỏ sao vàng với chức vụ phái viên quốc phòng Trung Bộ đi truyền hịch "Tổ quốc lâm nguy! Toàn dân chuẩn bị kháng chiến" cho đến ngày kết thúc nhiệm vụ trong Ủy ban quân chính Nam Trung Bộ (đầu tháng 2 năm 1946), có lẽ tôi là một trong những thanh niên được hạnh phúc nhất. Từ rừng núi Ba Tơ sớm được rong ruổi trên các ngả đường khúc ruột miền Trung với hình thế núi sông hùng vĩ, từ những dãy núi mây mù bao phủ trên nóc nhà Trường Sơn, đến bờ biển Đông trong xanh ào ạt, tiếng sóng vỗ bờ. Những cảnh ngoạn mục như Hải Vân, Sơn Trà, như cố đô Huế, như đèo Cả, Vũng Rô và Tây Nguyên mênh mông hùng vĩ, với miền duyên hải trù phú gieo vào tâm hồn tôi một niềm yêu nước thiết tha với nỗi lo âu giữ gìn bảo vệ.
Đặc biệt, những người đang sục sôi trong tim "Thà chết không làm nô lệ", những cán bộ Đảng, cán bộ Việt Minh, những chủ tịch Ủy ban nhân dân cách mạng cho đến các giới công, nông, trí thức, phú hào và anh chị em phụ nữ thanh niên, mọi người như một quyết tâm kháng chiến với niềm tin nhất định thành công.
Trải qua năm tháng, những chiến sĩ du kích Cứu quốc Ba Tơ có mặt trên khắp chiến trường, sát cách cùng những chiến sĩ giải phóng quân Nam tiến, không thiếu địa phương nào của miền Trung, miền Bắc hòa mình cùng những thanh niên tự vệ và binh sĩ yêu nước của từng địa phương thành một lực lượng vũ trang thống nhất, bao vây ngăn chặn tiêu diệt quân thù. Tôi còn gặp mặt những chiến sĩ Tiền phong Nam Bộ trong bộ quần áo xanh với ca lô xanh đội lệch, xin đổi gậy tầm vông nhận súng trường để tiến công địch ở Phan Thiết, Buôn Ma Thuột, Nha Trang.
Tất cả những con người ấy, những hình thế đất nước núi sông ấy, đã làm nên những chiến công từ cầu Bình Lợi cho đến Phan Thiết, Đà Lạt, Phan Rang. Từ ba biên giới đến Buôn Ma Thuột, Ma đrắc và đỉnh cao nhất là bốn tháng ác liệt trên mặt trận Nha Trang. Tuy cuộc chiến tranh nhân dân chưa hoàn thiện vì mới từ trong nhân dân mà ra, chưa qua một lớp quân sự sơ đẳng nào, đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định: "Quân đội ta là một quân đội thơ ấu tinh thần dũng cảm có thừa, nhưng thiếu vũ khí, thiếu kinh nghiệm, thiếu cán bộ, thiếu mọi mặt "nhưng trải qua bốn tháng dưới sự lãnh đạo quân sự chính trị của Ủy ban quân chính Nam Trung Bộ, không có những trận tiêu diệt chiến lớn, nhưng những gương chiến đấu hy sinh lẫm liệt của cá nhân, của tập thể đã lập những chiến công chói lọi trên khắp các chiến trường, khiến cho quân thù phải khiếp sợ và kính phục, cho đồng bào đồng chí quý trọng, thương yêu. Bốn tháng bao vây ngăn chặn quân thù, chính là một chiến công vô giá, đã góp phần để lại một Tạm ước mùng sáu tháng ba và một vùng quân thù không được bén mảng đến. Đó là vùng tự do "Nam - Ngãi - Bình - Phú", từ Cách mạng mùa thu tháng Tám, mãi đến thắng lợi cuối cùng sau chín năm kháng Pháp vẫn giữ vững độc lập tự do.


