NGÀY ẤY TRÊN RỪNG ĐẮC PÉT
Trằn trọc mãi mà Lương không sao ngủ được, câu nói của “B” trưởng Thuần cứ vẳng bên tai: “Bảy giờ sáng mai cậu lên gặp tiểu đoàn trưởng nhé”. Chẳng hiểu chuyện gì đây? Lương đã điểm lại hết những gì diễn ra trong vài ngày qua thì chẳng có gì sơ suất cả, hay vẫn cái chuyện “bằng tốt nghiệp lớp 10”. Hổi nhập ngũ cả khoá huấn luyện đặc công cấp tốc chỉ có mình Lương là tốt nghiệp lớp 7, người chỉ huy lúc đó nói với Lương: “đồng chí có sức khoẻ, tầm vóc hơn người, dũng cảm, nhanh nhẹn, thông minh nê
Đúng bảy giờ Lương đã có mặt ở phòng trực ban và cậu liên lạc cho biết thủ trưởng đang chờ. Lương bước đến cửa đứng nghiêm chào: “Báo cáo thủ trưởng! Tôi, trung sỹ Quyền Đình Lương có mặt”. Trước mắt anh không phải tiểu đoàn trưởng mà là chính trị viên tiểu đoàn Thân Trọng Hoanh, ông đứng dậy cười: “Được rồi! Vào đi, ngồi xuống, có việc đấy”.
Đẩy bát nước về phía Lương một cách thân thiện, ông nhìn Lương nghiêm trang hơn:
- Có một việc cần đến cậu, không biết cậu có sẵn sàng không?
Lương đứng phắt dậy: “Báo cáo thủ trưởng! Tôi sẵn sàng”. “Cứ ngồi xuống” - Ông mỉm cười đôn hậu. “Bọn mình trao đổi mãi rồi, có lẽ phải tung cậu vào, song cậu lại là “B” dự bị, khó quá”. “Thế anh em ở B chủ lực thì sao ạ? Thưa thủ trưởng”. “Họ đi rồi nhưng không ổn, lại tổn thất quá, ông Táu tiến cử cậu, song... công việc nguy hiểm lắm”.
Không để chính trị viên nói hết câu, Lương đứng nghiêm:
- Báo cáo! Tôi xin sẵn sàng ạ. Anh cứ giao cho em - Tự nhiên Lương đổi cách xưng hô - Việc khó nghiên cứu kỹ sẽ làm được ạ. Còn nguy hiểm thì... thì chiến tranh là thế ạ.
Đôi mắt của người chính trị viên sáng hơn như gửi niềm tin vào Lương, ông đứng dậy ôm hai vai Lương: “Tốt lắm! Cậu về chọn thêm hai đồng chí nữa nhé. Sẽ có kế hoạch cụ thể sau”.
Một ngày cật lực Lương, Chi, Đạo cùng Ban chỉ huy tiểu đoàn, đại đội, trung đội nghiên cứu phương án tác chiến trên sa bàn, tìm đường đột nhập và bố trí hoả lực, cả ba được nghỉ ngơi sẵn sàng đợi lệnh...
Mấy hôm nay trời mưa kéo dài, cả núi rừng Đắc Pét như trùm, trong mưa, đất rừng nhão nhoét, nước khe lạch đục ngàu cuốn theo đầy bọt và rác rưởi, con nai, con hoẵng nằm bẹp trong hang chẳng buồn giác gọi đàn, cũng là lúc Lương cùng Chi, Đạo vũ khí nặng trĩu lưng chui ra khỏi lán. Họ nhận nhiệm vụ bí mật, bất ngờ áp sát sân bay Đắc Pét đặt mìn chặn đánh xe thiết giáp địch đang tiếp viện cho Tân Cảnh và đe doạ lực lượng không quân địch ở sân bay. Ngoài vũ khí cá nhân của người chiến sỹ đặc công, Lương cõng trên lưng quả mìn chống tăng lừng lững, Chi và Đạo khênh một quả và mỗi người một khẩu AK báng gập. Họ lặng lẽ tránh những phòng tuyến dày đặc của kẻ thù, vượt qua hai lần suối lũ, đến bờ sông Tà Ôi thì Lương ra hiệu tập trung: “Nghỉ ít phút chuẩn bị vượt sông. Bơm phao đi. Chi ở lại yểm trợ, mình và Đạo đưa vũ khí qua sông”.
Có lẽ chẳng đến mười phút, Lương và Đạo đã lặng lẽ gật đầu nhìn Chi rồi khẽ trườn mình xuống dòng nước nhẹ nhàng đẩy chiếc phao chìm quá nửa đang cõng trên mình quả mìn lớn và vũ khí. Pháo sáng địch thỉnh thoảng lại nổ bục trên không soi rõ dòng nước chảy, Lương và Đạo lặng lẽlặn xuống mặt nước, đôi tay vẫn bám chiếc phao nhích từng sải. Chân vừa chạm đất bên kia Lương nhắc luôn: “Đưa mìn tập kết cách gốc cây to kia 30 mét nhé. Chú ý yểm trợ”. Đạo vác mìn lên vai cũng là lúc Lương kéo nhẹ chiếc phao, xác định hướng bơi trở lại. Tới bờ, Lương phải đi bộ ngược lên vài trăm mét mới gặp Chi, lại lặng lẽ cùng nhau đẩy chiếc phao với quả mìn thứ hai, được chừng hai chục mét bỗng có tiếng xuồng máy phía thượng lưu rồi ánh đèn pha quét sáng mặt nước. Lương bình tĩnh: “Tháo hơi phao, nhanh lên”. Chiếc phao xẹp dần và cả khối vũ khí chìm lửng lơ dưới mặt nước. Nút phao được vặn chặt. “Lặn xuống! Quay lại bờ cát”. Lương khẽ nhắc và cùng Chi lặn một hơi dài. Đến lần thứ tư thì tiếng xuồng tuần tra của địch phành phạch lướt qua và xuôi xuống phía hạ lưu. Cả hai quay trở lại, dìu khối vũ khí lặc lè bơi tiếp vào bờ. Dòng nước đưa họ xuôi dòng quá xa nên phải thay nhau vác đi ngược bờ sông tìm Đạo. Họ đến được vị trí tập kết thì chiếc đồng hồ dạ quang trên tay Lương đã chí quá mười hai giờ đêm. Chẳng còn phút nghỉ ngơi, Lương phân công đổng đội cảnh giới hai đầu đường, anh phụ trách chôn mìn. Mưa vẫn lất phất rơi, mật độ tuần tra của địch thưa thớt, Lương quan sát kỹ, đánh giá khả năng, ý đồ của địch, định rõ khoảng cách và quyết định vị trí chôn mìn, mỗi quả một phía đường cách chếch nhau chùng ba chục mét. Với bàn tay to, chắc như gọng kìm, Lương sử dụng con dao găm một cách thành thạo, nhẹ nhàng tách lớp đất đen trên cùng cho vào một túi nilon để riêng, lớp đất đỏ phía dưới cho vào túi thứ hai để sau khi đặt mìn xuống hố, lớp đất đen lại được phủ lên trên cùng, tránh sự phát hiện của địch. Gần một giờ sau, xoa lại mặt đất một cách cẩn thận và kiểm tra lần cuối cùng, Lương lệnh cho anh em rút lui. Sáng hôm sau đoàn xe của địch vừa ra khỏi cổng sân bay thì chiếc GMC chở đầy lính Mỹ trúng mìn, chiếc xe bốc cháy ngùn ngụt, tiếng kêu la hãi hùng. Chiếc thứ hai chạy rạt sang phía bên kia thì lại trúng mìn, cả chiếc thiết giáp bị lật nhào, một dãy bùng nhùng kẽm gai bay sạch, toàn sân bay báo động hỗn loạn, địch tưởng quân ta tấn công sân bay vội vàng cấp báo cho Tân Cảnh, Đắc Tô về giữ Đắc Pét.
Sau trận đó Quyền Đình Lương được điều về đơn vị C1 mũi nhọn của tiểu đoàn và từ đây anh có dịp liên tiếp lập công tiêu diệt kẻ thù bằng những cú đánh nhanh, diệt gọn, xuất quỷ nhập thần. Một buổi tối “xê” trưởng Táu gọi Lương lên lán Đại đội, nhìn nét mặt căng thẳng của Táu. Lương vội hỏi:
- Có gì quan trọng hả anh?
- Có đấy - Táu nói - Trên giao cho ta vẽ sơ đổ toàn bộ phòng tuyến địch tại Đắc Pét để lập đài quan sát chuẩn bị cho chiến dịch, cái khó là áp sát địch giữa ban ngày, cậu có cách gì không?
Như vớ được cơ hội, ánh mắt Lương sáng lên:
- Anh Táu ạ! Đã có lần tôi định đề xuất với anh một kế hoạch táo bạo, song ta ứng dụng luôn vào dịp này có được không, cho tôi được đóng vai một sỹ quan địch thì sẽ làm được, bởi sự nhộn nhạo lẫn lộn giữa lính nguy, lính Mỹ, lính Hàn. Tôi lọt vào chắc thuận lợi.
- Một mình ư? - Táu sửng sốt.
- Vâng! Bởi nhiều lúc anh em vẫn đùa tôi to xác như một tên Mỹ, có lẽ lúc này tôi phát huy được cái to xác ấy. Anh yên tâm, chắc chắn làm được.
Nghe có vẻ xuôi xuôi, Táu kéo Lương lại gần trao đổi những chi tiết cụ thể rồi thống nhất phương án đề xuất lên cấp trên.
Kế hoạch của các anh được cấp trên chấp nhận và một sáng chủ nhật Lương ung dung trong bộ đồ sỹ quan Mỹ, chiếc mũ sắt trùm gần kín mắt và chiếc kính gọng to đen xì. Ngày nghỉ nên nhiều người dân đi chợ mua sắm và từng tốp dăm ba thằng, lúc thì Mỹ, lúc thì nguy, lúc thì Pắc Chung Hi rượu say luý tuý, Cười nói chẳng thèm để ý đến ai, chỉ có những cô gái đi chợ là chúng nhìn nhiều và cười đắc ý sau những lời chòng ghẹo. Lương tận dụng mọi thời cơ hiếm có để quan sát, ghi nhận và sử dụng cả chiếc máy ảnh nhỏ xíu khi có điều kiện, phía trước, phía sau các phòng tuyến, nơi bố trí hoả lực phòng thủ, nơi ăn, ở, khu hậu cần của trại lính... Bỗng một người con gái trang phục để lộ da thịt nhiều hơn vải che thân từ xa hăm hở đi tới: “Hê lô - Hê lô” rồi tung ra một chuỗi tiếng Mỹ mà Lương không hiểu. Nhìn cô gái anh biết là hạng người nào, liếc quan sát xung quanh không có gì đáng ngại, Lương cười: “Hê lô - Hê lô cái con khỉ. Không nhìn rõ anh à? Chóng quên thể'“, “á à! Anh hai đi một mình à? Boa em đi, em sẽ làm cho anh tận hưởng sung sướng của cuộc đời trong một ngày nghỉ. Kìa cưng! Chiều nhé”. Lương nghĩ rất nhanh, có cô gái này đi lại sẽ dễ dàng hơn, anh cười: “Đi dạo đã. Hôm nay anh đang có chuyện buồn. Má vừa bị chết bom”. “Cưng à! Em thương, thương lắm”. Cô gái như muốn nhảy tót vào Lương, anh vội nói: “Đi dạo đã rồi về đơn vị với anh cả ngày hôm nay. Vừa có lương, đầy chật bóp”. Thế là Lương sóng đôi với cô gái lạ nhưng đôi mắt và tâm trí anh tập trung toàn bộ cho công việc, đến nỗi cô gái phải thốt lên: “Kìa cưng! Nói chuyện cho vui đi”, “Anh đang buồn lắm, cứ đi dạo anh sẽ thanh thản hơn. Em nói đi, anh nghe”.
Thế là kẻ líu ríu, người lặng lẽ tưởng như đang nghe cho đến lúc công việc của Lương đã hoàn tất, anh kéo cô gái vòng trở lại muốn kiểm tra lần nữa, cô gái giục: “Về doanh trại thôi cưng”.“Lại đằng này nhiều bạn anh hơn, tha hồ vui”. Họ trở lại chưa được một nửa thì phía trước một chiếc xe Jíp lao như tên từ phía rừng ra, rồi đứng sững lại, năm lính Mỹ phăm phăm đi lại phía Lương. Linh cảm có chuyện, Lương đẩy nhẹ cô gái: “Lại phía bên kia đi, có đánh nhau đấy”. Cô gái như quen với đời binh lính hỗn loạn, liếc nhìn Lương rất nhanh bắt gặp đôi mắt lạnh như thép, vội vàng bỏ chạy. Lương ung dung đi thẳng lại phía chúng, chỉ còn cách hơn chục mét bất chợt anh ném quả thủ pháo trúng giữa và lăn sang bên đường rút nhanh khẩu súng ngắn, anh chỉ kịp thấy một chớp sáng loé và tiếng nổ u tai, năm tên nằm tay chân còn giẫy giụa. Lương lao lên giật khẩu AR15 và hai băng đạn chạy vọt qua chiếc Jíp, thấy tiếng máy vẫn nổ giòn, anh quay lại nhảy lên xe, đánh một vòng cua chạy ngược trở lại lao thẳng vào rừng, cảm thấy an toàn Lương dừng xe, tắt máy cầm chìa khoá xe chạy một mạch về hậu cứ. Trong chiến dịch ấy, phối hợp cùng chủlực, mũi nhọn của Lương đã tiêu diệt gọn nhiều tốp tàn quân địch đang tháo chạy và đánh tan xác hai thiết giáp. Sau chiến dịch khắp Tây Nguyên được đọc một tin vui trên báo “Tây Nguyên” trong chuyên mục “Chiến sỹ giỏi của Bác Hồ”. Bài viết của phóng viên mặt trận ca ngợi Quyền Đình Lương, một chiến sỹ trẻ, dũng cảm, mưu trí, linh hoạt, tài ba, liên tục tấn công địch, lập nhiều chiến công suất sắc. Sau bài báo, cả đơn vị vinh dự được đón tiếp Anh hùng Núp về thăm và bác nói muốn gặp tận mắt “anh lính cụ Hồ dũng cảm”. Bác Núp ôm Lương âu yếm: “Cháu giỏi hung! Giỏi như con cháu Tây Nguyên ta rồi. Cùng nhau quét sạch quân xâm lược cháu nhé?”Rồi phía kẻ thù cũng đọc bài báo ấy và cái tên Quyền Đình Lương trở thành nỗi hoang mang, khiếp sợ đối với chúng. Trên một chiếc cán gáo bay phành phạch suốt ngày khắp rừng Đắc Pét, ném xuống không biết bao nhiêu tờ rơi và oang oang giọng của một tên tâm lý chiến: “Binh sỹ nào lấy được đầu Quyền Đình Lương thì thượng cấp trọng thưởng 30 ngàn đô la. Thường dân nào giết được Quyền Đình Lương sẽ được trọng thưởng 50 ngàn đô la, hoặc phát hiện nơi Quyền Đình Lương hoạt động báo cho nhà chức trách sẽ được trọng thưởng như người có công lớn với chính nghĩa quốc gia”. Tranh thủ nỗi kinh hoàng của địch và tương kế tựu kế, Lương đề suất sáng kiến được cấp trên chấp nhận, cho chiến sỹ của mũi trinh sát bí mật đến Đắc Tô, Đắc Pét khắc lên vỏ cây dòng chữ: “Quyền Đình Lương đã đến đây” rồi đơn vị bất ngờ đột nhập đánh phá dữ dội trại lính Mỹ ở Tân Cảnh, riêng mũi của Lương diệt hơn một trăm tên, giải phóng nhiều chị em phụ nữ bị chúng bắt về đây phục vụ cho chúng.
Mùa xuân năm 1974, thực hiện kế hoạch của chiến dịch, tiểu đoàn của Quyền Đình Lương được lệnh tập kích thẳng vào ngoại vi sân bay Đắc Pét, nhổ một số trọng điểm của lính Mỹ, Pắc Chung Hi đang chốt giữ. Tổ của Lương đang vận động tiếp cận hệ thống bùng nhùng thì pháo cầm canh của địch bắn vu vơ trúng vào khu vực tổ anh, hàng loạt mìn clây mo của địch nổ, anh chỉ kịp nhìn thấy một chớp sáng loè rồi không biết gì nữa, các mũi nhọn còn lại của c2, c3, C4 cùng C1 tung hoành ngang dọc đánh tan tác các cứ điểm, tháp canh, lô cốt, trạm thông tin, nhà ở, nhà kho, nhà xe, máy bay và cả khu chứa xăng bốc cháy dữ dội, tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Trời sáng dần các mũi tiến công lần lượt rút về, đến hậu cứ cả đơn vị đều sửng sốt khi cả tổ của Quyền Đình Lương không một ai trở lại. Hôm sau, trời nắng đến sém cả lá rừng, cũng là một ngày cả đơn vị cháy ruột cháy gan chờ trời tối. Rồi màn đêm cũng chậm chạp xuống dần, Đại uý Trần Xuân Lý trực tiếp chỉ huy một mũi trở lại tìm đồng đội. Cả khu chiến trận tan hoang đến ghê người, mùi thuốc súng, mùi khói, mùi khét, mùi tanh nồng bốc lên sau một ngày nắng nóng. Len lỏi khắp các trinh sát không thấy một ai, lúc thì tìm được mảnh áo, lúc thì cái ủng, cái giày địch, cái mũ sắt, lúc thì mảnh vụn của cánh tay, mảng tóc của ai còn bết dính bên tảng đá. Khi tưởng như không còn hy vọng thì chợt một trinh sát bấm nhẹ vào vai Lý chi về phía mép hố bom. nơi tiếp giáp giữa nước và bờ có một tấm lưng ai đó trong ánh trăng mờ mờ, cái đầu được trùm lá phủ kín. Hai người nhẹ nhàng tiếp cận, áp sát và kéo xác người đó lên thì họ cùng sửng sốt: “Cậu Lương”. Lập tức bốn người xúm lại nhẹ nhàng nâng anh lên miệng hố, tất cả cùng không tin vào mắt mình nữa khi cả tấm lưng của Lương một ngày phơi nắng tím xám lại như quả sim chín đỏ, phồng lên mum mũm, khắp người anh máu đã cứng bết như nhựa đường, đôi chân nhợt nhạt, nhăn nheo chỉ còn duy nhất bộ ngực còn thoi thóp thở. Lập tức Lý cử bốn chiến sỹ chuyển nhanh Lương về phía sau, anh cùng các chiến sỹ còn lại kiểm tra lần cuối rồi rút về. Lương lập tức được đưa đến trạm cấp cứu tiền phương, các y bác sỹ ở đây phải thốt lên: “Không hiểu có một sức khoe’ diệu kỳ nào mà bị thương toàn thân, cả vùng sọ não, lại phơi nắng một ngày ròng mà trái tim anh vẫn còn đập”.
Sáu ngày cấp cứu tích cực của y bác sỹ, Lương hổi tỉnh dần, bác sỹ Đức nhẹ nhàng hỏi những điều cần thiết bổ sung vào hồ sơ bệnh án: “Anh Lương! Anh nghe rõ tôi nói không?” Lương mấp máy môi gật đầu. Ông hỏi tiếp: “Khi cần sẽ báo tin cho ai?” rồi ông ghé sát tai xuống miệng Lương, nghe xong ông ghi vội vào ô đang còn trống: “Báo về anh Quyền Đình Cường - cán bộ Ty Bưu điện, nhà ở khu phố 4, thị xã Yên Bái”. Rồi ông khẽ thở một hơi dài nhè nhẹ đứng dậy gấp hồ sơ bệnh án lại...
Một chiều hè năm 2006, một chiếc ô tô con màu đen bốn chỗ bóng lộng nhẹ nhàng dừng lại trước cổng Uỷ ban nhân dân phường Yên Thịnh, cánh cửa bật mở, một người đàn ông cao. to. mái tóc đã bàng bạc bước ra, dáng đi chắc, khoẻ, ông bước thẳng vào văn phòng Uỷ ban, một lúc sau ông đi ra cùng với bà Phó Chủ tịch phường. Hai người đi sang căn nhà có dòng chữ“Nhà tình nghĩa” ngay gần Uỷ ban nhân dân. Vừa bước lên hè, tiếng bà Phó Chủ tịch đã đon đả: “Anh Lương có nhà không? Ra đón khách quý này”. Có tiếng từ trong nhà vọng ra: “Tôi đây! Khách quý nào đấy? Mời vào đi”. Nghe vậy, người đàn ông nói dõng dạc: “Đồng chí Quyền Đình Lương! Ra nhận nhiệm vụ”, rồi ông lao vào phía Lương đang khập khiễng đi ra, vẻ khó nhọc. “Trời ơi! Thằng Lương! Thằng Lương thật rồi” và ông ôm chặt Lương trong vòng tay rắn chắc, miệng nói không ngớt: “Nhận ra tao không? Thân Trọng Hoanh đây. Hoanh D8 đây”. Quyền Đình Lương đứng ngây người nhìn trân trân vào người chỉ huy năm xưa và đôi mắt anh nhòa đi, hai dòng nước ấm lăn xuống má: “Thủ trưởng! Thủ trưởng Hoanh”. “Thôi đi! Thủ trưởng, thủ trưởng cái đếch gì nữa. Thường dân cả rồi. Nào ngồi xuống”. Bà Phó Chủ tịch đỡ ấm nước từ tay người vợ của Lương và rót đều ra các chén, hương chè Suối Giàng thơm ngào ngạt, tiếng ông Hoanh vẫn oang oang: “Hôm vừa rồi về gặp gỡ, giao lưu các cán bộ miền Nam Tây Nguyên, ông Vũ Khoan bảo vừa vào thăm cậu tháng trước trong chuyến đi công tác Yên Bái, tớ mới tin là cậu còn sống và quyết định phải tìm bằng được. Tuyệt vời rồi, tớ sẽ báo tin ngay cho đồng ngũ. Nào! Uống đi, cứ “cạch” một cái đã, tý nữa ta cạch “sâm banh”, trên xe tớ chuẩn bị cả rồi”.
Những chén trà nóng được nâng lên chụm nhau lanh canh, hương thơm và hơi ấm tràn ngập căn phòng. Đôi mắt Lương lại nhoà đi và phía xa xa Lương như thấy bao cánh tay đang vẫy vẫy của đồng đội giữa rừng Đắc Pét năm nào.



