Cựu chiến binh

NGÀY HÒA BÌNH TRONG MẮT NGƯỜI LÍNH TĂNG

Tái hiện cảm xúc của nhân chứng trong những ngày đầu đất nước hoàn toàn giải phóng và nhiều năm sau đó. Bài viết nhìn hòa bình từ góc độ người trong cuộc – người từng bước qua trung tâm hỏa lực, hiểu giá trị sự sống và cách gìn giữ niềm tin cho thế hệ mới.

Hưng Yên07/01/2026Bùi Văn Tuân (Trường Tiểu học Thụy Quỳnh)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ông Liêm kể rằng hòa bình có mùi rất lạ: mùi của nước mưa rửa sạch thuốc súng trên tấm giáp thép. Sáng 1.5.1975, khi đơn vị tăng nhận nhiệm vụ cơ động bảo vệ quanh sân bay Tân Sơn Nhất, ông lần đầu thấy trẻ con Sài Gòn leo lên thân xe không phải để xin kẹo mà để sờ vào hai chữ “Tổ quốc” được sơn vội. Đối với người lính tăng, ngày hòa bình bắt đầu bằng sự ngừng bắn tuyệt đối – thứ kỷ luật mà ông đã giữ đến giây cuối.

Những năm sau đó, ông cùng 363 tham gia cơ động dọc các tỉnh miền Đông. Mỗi thị xã nhỏ được giải phóng lại là một bài học mới: phải giữ trật tự, không để dân bị cuốn vào hỗn loạn trả thù; phải rà phá các bãi mìn chống tăng còn la liệt; phải bắn chế áp có lựa chọn vào những ổ kháng cự lẻ để giảm tối đa thương vong. Ông nói rằng nếu trong chiến tranh thép và người hòa làm một để tiến công, thì trong hòa bình, người lính phải hòa vào nhân dân để bảo vệ sự sống.

Trận đánh Phước Long năm nào vẫn đi cùng ông như một dấu mốc. Ông nhớ những lần cơ động lên An Lộc, qua Trạm Bom, rồi vào Xuân Lộc. Mỗi nơi, 363 đều đối mặt các cụm B41 từ tầng cao, cao xạ 37mm bắn thẳng vào góc chết. Chính nhờ kinh nghiệm “lùi nửa thân”, nhờ cách xoay tháp pháo tạo hành lang cho bộ binh, kíp xe của ông nhiều lần tránh được đòn phục kích. Ông bảo:
– Hòa bình được đánh đổi bằng sự bình tĩnh trong từng quyết định như thế.

Khi đất nước đã thống nhất, ông tiếp tục ở lại binh chủng để huấn luyện lớp lính mới chuẩn bị cho nhiệm vụ bảo vệ biên giới Tây Nam và phía Bắc. Trên thao trường, ông kể cho anh em nghe về những trận đánh ác liệt nhất của đời lính, về khoảnh khắc chỉ còn một xe nhưng không lùi bước. Ông không tô hồng chiến tranh, chỉ nói rằng niềm tin vào đồng đội là điều giúp con người đứng vững trước hỏa lực mạnh.

Năm 1987, ông về nghỉ hưu, mang theo cả bầu trời Trường Sơn trong mắt. Ở thôn An Liêm, xã Thăng Long, ông bắt đầu cuộc sống của người nông dân, nhưng vẫn giữ thói quen đầu lạnh giữa đời sống nóng. Mỗi sáng ông đạp xe đi thăm các gia đình liệt sĩ, hỏi han anh em thương tật nặng, kể chuyện cho học sinh nghe về lịch sử. Ông Dương Hồng Hải – Chủ tịch Hội Cựu chiến binh xã – nói rằng ở quê, ông là tấm gương sáng để truyền cảm hứng cho thế hệ sau. Tôi hiểu rằng lời khen ấy không chỉ dành cho danh hiệu Anh hùng, mà cho cách ông gìn giữ hòa bình bằng trái tim rất hiền.

Tôi – người cháu – nhiều lần ngồi nghe ông kể lại từng giờ phút 29–30.4.1975, khi đội hình tăng thọc sâu qua Thủ Đức, chế áp các ổ B41 ở cầu Sài Gòn, nhìn thấy cờ trắng treo trên nóc dinh. Ông kể chậm đến mức tôi có cảm giác mình đang ngồi ngay trên khoang thép 363 năm ấy. Nhờ những câu chuyện gia đình đó, lịch sử bước ra rất gần đời sống hôm nay.

Ông nói với tôi trong một buổi chiều yên tiếng:
– Các con đang sống tiếp cuộc đời của những người đã hi sinh. Hãy giữ cho Tổ quốc được ngủ yên.

Trong mắt người lính tăng, hòa bình vì thế không phải điều tự nhiên có sẵn. Nó được dựng lên từ hàng nghìn quyết định không do dự của những người chỉ huy, từ sự gan dạ lan truyền trong đội hình, từ niềm tin giữa những kíp xe như 363. Tôi viết lại câu chuyện này để hiểu rằng ngày hòa bình đang nằm ngay trong căn nhà nhỏ của mỗi gia đình Việt Nam – nơi ký ức chiến tranh trở thành bài học yêu nước cho mai sau.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn