NGÀY VỀ - TRỞ LẠI THỦ ĐÔ
Đoạn hồi ký kể lại những sự kiện lịch sử quan trọng sau khi Hiệp định Genève 1954 có hiệu lực, khi các đơn vị của Đại đoàn 308 Quân Tiên phong nhận nhiệm vụ chuẩn bị tiếp quản Thủ đô. Trong chuyến hành quân từ Việt Bắc về, các cán bộ chiến sĩ được gặp Hồ Chí Minh tại Đền Hùng, nơi Bác căn dặn câu nói nổi tiếng: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước.” Lời dặn đó trở thành động lực tinh thần cho quân đội trước nhiệm vụ lịch sử. Sau đó, các đơn vị quân đội tiế
Ngày 22 tháng 7 năm 1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ có hiệu lực, Trung đoàn 88 được lệnh ngừng chuẩn bị tiến công vào cụm cứ điểm thị xã Phủ Lạng Thương (tỉnh lỵ Bắc Giang) thu quân di chuyển về tập kết ở Phú Thọ đợi lệnh mới! Lệnh đình chiến! Một tâm trạng thật đặc biệt, khó tả.
Ngày 15 tháng 8 năm 1954, Chính ủy Song Hào được phong hàm Đại tá là Phó đoàn quân sự cùng Thiếu tướng, Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng đi Hội nghị Trung Giã bàn việc thực hiện đình chiến trên toàn quốc. Nhưng Bắc - Nam đã có thể thật sự thống nhất chưa? Ai cũng mong và tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, của Bác Hồ! Hãy đặt trọn niềm tin vào sự lãnh đạo của Người.
Cuối tháng 8 năm 1954. Mới hòa bình mà cũng bận chẳng khác gì lúc “đánh nhau”. Mà bận rộn cũng phải thôi vì cả Đại đoàn Quân Tiên phong được vinh dự thay mặt cho đại quân về tiếp quản Thủ đô Hà Nội. Hình như Đại đoàn trưởng Vương Thừa Vũ được phong tướng và sẽ là Chủ tịch Ủy ban quân chính nhận bàn giao Hà Nội với Pháp thì phải? Tình cảm thật sôi nổi vui sướng. Trung đoàn Thủ đô (E102), Đoàn Bắc Bắc (E36), Đoàn Tu Vũ (E88), gồm những lính chiến nội ngoại thành, mùa xuân 1947 phải rút khỏi Hà Nội nhưng thề sẽ trở lại, hôm nay đã là một Đại đoàn kéo về tiếp quản Thủ đô. Tôi nghĩ khi vào Thành sẽ chạy xuống bãi Nghĩa Dũng xem nhà cửa ra sao, nghe nói quân Pháp đánh nhau với tự vệ “ác chiến” lắm, tan nát cả rồi.
Những ngày đầu tháng 9 năm 1954, chúng tôi hành quân 5 ngày đêm từ Việt Bắc về tập kết quanh Hà Nội: Trung đoàn 88 đóng quân tại Thanh Trì - sao lại ngẫu nhiên và trùng hợp thế, mới ngày nào (thế mà ngót 9 năm rồi). Đoàn Thanh niên Tuyên truyền vũ trang xung phong Thành Hoàng Diệu cũng “tập trung” ở Giáp Bát tối ngày 18 tháng 8 năm 1945 để trưa ngày 19 tháng 8 năm 1945, tổng khởi nghĩa chiếm trại Bảo an binh và trở thành đại đội du kích Hà Nội, Đại đội giải phóng quân số 1 của Thủ đô, tôi là tiểu đội trưởng được bầu là Trung đội trưởng Trung đội 3. Thế mà hôm nay mình lại cùng Trung đoàn mang quân về tiếp quản Hà Nội cũng từ hướng nam Hà Nội này, mấy hôm nữa sẽ vào làng “Giáp Bát” xem sao?.
Hôm nay được lệnh từ cấp đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn, mỗi đơn vị cử một đồng chí về huyện Lâm Thao dự cuộc họp đặc biệt. Cả trung đoàn cử 20 đại biểu, ủy ban quân chính Thanh Trì trưng dụng cho một xe khách RENAULT ngược lên Sơn Tây qua bến Trung Hà và đổ quân ở cửa Đền Hùng, trong lòng mỗi người đều xốn xang sâu lắng, tự hào về giống nòi con Lạc cháu Hồng của non sông đất nước Việt Nam. Vừa xuống xe đồng chí Thanh Quảng - Văn phòng Tổng Quân ủy đứng đón và nhanh nhẹn đưa anh em lên núi ngồi chờ họp ở các bậc thang đúng cửa chính diện Đền Hùng - cuộc hội tụ đủ mặt “chư vị anh tài” đủ 4 trung đoàn của Đại đoàn 308, tiếng cười nói râm ran, có cả những chuyện ba hoa têu tếu.
Bỗng có tiếng “kẹt”, khi cửa đền mở rộng hai cánh, một cụ già quắc thước bước ra, có anh Song Hào đi bên cạnh. Trời, đó là Bác Hồ, Bác giơ tay trìu mến: “Các chú đã đến đầy đủ à!”. Không khí im lặng chỉ không đầy 1 giây rồi bật lên tiếng tung hô vang động núi đồi:
Bác, Bác Hồ muôn năm! Hồ Chủ tịch muôn năm!
Bác! Bác ơi!
Là Chủ tịch nước, là lãnh tụ của Đảng sắp cùng Trung ương và Chính phủ về Thủ đô, nhưng giờ phút này, tại đền Vua Hùng, Bác vẫn giản dị trong bộ quần áo nâu, chiếc khăn quàng cổ và đôi dép cao su đen. Vẫn dáng bộ đĩnh đạc thân thương, Bác giơ hai tay lên cao và hạ xuống dứt khoát: “Các chú có mệt không?”. Theo lệnh Bác, mọi người ngồi im lặng và lắng nghe.
Chỉ tay lên đền thờ Vua Hùng, Bác căn dặn: “Đây chính là đền thờ Vua Hùng tổ tiên chúng ta, Bác cháu ta gặp nhau ở đây tuy tình cờ nhưng lại rất có ý nghĩa. Ngày xưa các Vua Hùng dựng nước, nay Bác cháu ta là những người giành lại đất nước. Trải qua bao nhiêu thời đại đấu tranh, ông cha ta mới giữ được. Thủ đô, tám, chín năm nay do quân dân ta kiên quyết kháng chiến nên mới thắng lợi trở về Hà Nội vì thế các chú được Trung ương và Chính phủ giao cho nhiệm vụ tiếp quản là được nhận một vinh dự lớn.
Các Vua Hùng đã có công dựng nước
Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”
Sau đó Bác dặn tiếp: “Quân đội ta đừng vì hòa bình mà lơi lỏng tay súng, còn đế quốc ở miền Nam, còn đế quốc trên thế giới thì còn phải xây dựng quân đội mạnh mẽ!”. Kết thúc câu chuyện, Bác nói: “Đồng bào Hà Nội mong chờ các chú từ ngày các chú ra đi, nay đang may cờ đỏ sao vàng chờ đợi hoan hô các chú, hãy xứng đáng với vinh dự đó, trách nhiệm đó!”.
Từ biệt Bác, chúng tôi nhìn theo dáng đi nhanh nhẹn, thoăn thoắt của Bác khuất vào núi rừng bạt ngàn, mênh mông của khu đền Vua Hùng bát ngát.
Lời Bác dặn cũng là lời non nước. Thấm nhuần lời dạy của Người, chúng tôi trở về ven đô Hà Nội với hào khí Thăng Long và tâm niệm rằng: rõ ràng thắng lợi to lớn về chính trị, quân sự, ngoại giao của ta vừa qua chưa phải là thắng lợi cuối cùng, con thuyền cách mạng còn phải vượt muôn ngàn gian khổ để giành lại đất nước không phải là đã biển yên sóng lặng mà còn gặp nhiều bão táp phong ba.
Theo kế hoạch tiếp quản, lực lượng gồm có Đại đoàn Quân Tiên phong 308 được tăng cường Trung đoàn 57 Đại đoàn 304 (Đại đoàn 308 tiếp quản nội thành còn Trung đoàn 57 tiếp quản thị xã Hà Đông và một phần Thủ đô Hà Nội).
Lãnh đạo, chỉ huy tiếp quản gồm có hai tổ chức do Quân ủy và Trung ương quyết định:
Ủy ban tiếp quản nhận bàn giao các cơ sở quân sự - kinh tế - hành chính hoạt động từ 1 đến 9 tháng 10 năm 1954 do đồng chí Trần Danh Tuyên và đồng chí Trần Vỹ lãnh đạo.
Ủy ban Quân chính hoạt động từ ngày 10 tháng 10 năm 1954 quản lý toàn diện toàn thành và ngoại vi Thủ đô do Thiếu tướng Vương Thừa Vũ làm Chủ tịch và bác sĩ Trần Duy Hưng - Chủ tịch Ủy ban Hành chính thành phố làm Phó Chủ tịch.
Những ngày đầu tháng 10 năm 1954, theo kế hoạch bàn giao của Pháp và tiếp quản của ta, Ủy ban Liên hợp Pháp - Việt đình chiến bắt đầu hoạt động, ta đưa một bộ máy sĩ quan quân đội, một phân đội bộ đội và cảnh sát vào tổ chức gác chung trụ sở của Ủy ban Liên hợp ở cấp thành phố, quận và một số phường quan trọng. Trong những ngày đó, phía Pháp thiết quân luật toàn thành phố, bọn phản động đội lốt tôn giáo, ngụy quyền lập các trạm di cư, ủy ban bảo vệ Bắc Việt và có cả cái gọi là “trung đoàn thủ đô” để quyết giữ Hà Nội bằng bất cứ giá nào, không giao Hà Nội cho Việt Minh. Nhưng khi xuất hiện các xe của Ủy ban Liên hợp có cờ đỏ sao vàng chạy khắp các phố phường, các trạm gác liên hợp có bộ đội ta và lính Pháp gác chung thì mọi cái gọi là “ủy ban này, ủy ban nọ” và cả cái “trung đoàn thủ đô” cũng mất hút, giải tán không kèn, không trống. Thay vào đó là tình hình chuẩn bị đón quân ta trở về, trước còn hoạt động ban đêm, sau chuyển sang hoạt động cả ban ngày”.
Các ủy ban, đoàn thể đã hình thành trên từng khu phố, đặc biệt là phong trào nhuộm vải đỏ may cờ thật là sôi nổi. Các đội tự vệ được tổ chức để chống cướp, chống tháo máy, đấu tranh bảo vệ điện nước. Bọn ngụy quân, ngụy quyền rã ngũ hàng loạt.
Ngày 8 tháng 10 năm 1954, Trung đoàn 57 tiến vào tiếp quản thị xã Hà Đông, chuẩn bị cho các đơn vị của Đại đoàn Quân Tiên phong vào tiếp quản Hà Nội.
Ngày 9 tháng 10 năm 1954, ngày mà tất cả mọi người quân cũng như dân mong đợi đã đến. Từ sáng sớm tinh mơ, trên tất cả 4 cửa ô Hà Nội: Ô Đống Mác - Ô Bạch Mai -Ô Cầu Giấy - Ô Yên Phụ, từng đoàn xe phù hiệu quân đội sao vàng trên nền đỏ nối đuôi nhau chở đầy các chiến sĩ và cán bộ ngực lấp lánh huy hiệu “Chiến sĩ Điện Biên Phủ” súng ống, lưỡi lê tuốt trần uy nghiêm, hùng dũng. Đồng bào ngoại thành hai bên đường ùa ra cổ vũ hoan nghênh đón chào đoàn quân tiếp quản. Trong khi đó, nơi phía quân Pháp còn quản lý thì phố xá im lìm, lạnh tanh, nhiều chiếc xe bọc thép chạy qua chạy lại ngó nghiêng.
Theo một hiệu lệnh thống nhất, tất cả các cánh quân đều cho nổ máy lăn bánh. Tiến vào thành phố nhận bàn giao của quân Pháp, các đồn bót, công sở, dinh thự trực tiếp quản lý từ phía Pháp - quân ngụy không được tham gia.
Ở phía bắc thành phố, Trung đoàn Thủ đô tiếp quản ô Cầu Giấy, Bưởi, Thụy Khê, Kim Mã, nội thành Hoàng Diệu, Phủ toàn quyền, nhà máy đèn, nhà máy nước được trao lại cho quân ta.
Từ phía tây nam thành phố, Trung đoàn Bắc Bắc vào chiếm lĩnh sân bay Bạch Mai, bệnh viện Cống Vọng, Khâm Thiên, ga Hàng Cỏ.
Phía đông nam thành phố, Trung đoàn Tu Vũ tiến vào đồn Ngọc Hồi, tiếp đến là khu Việt Nam học xá, nhà máy Rượu - Đồn Thủy, Viện Quân y Võ Tánh (nay là Bệnh viện Trung ương Quân đội 108) và các công sở quanh khu hồ Hoàn Kiếm. Thật xúc động, một tổ chiến sĩ Đoàn Tu Vũ mang cờ ra cắm trên đỉnh Tháp Rùa. Lá cờ đỏ sao vàng rực rỡ tung bay trước gió.
Một khung cảnh tương phản đã diễn ra, bên phía quân Pháp thì vắng tanh, vắng ngắt. Còn phía bên ta tiếp quản thì tưng bừng nhộn nhịp, sức sống lại được bừng lên mãnh liệt. Quân ta tiếp quân đến đâu thì cờ đỏ sao vàng mọc đến đó, thoắt đã biến thành rừng cờ khắp trên nóc nhà, cửa sổ, đầu xe, thậm chí cả xe đạp, xích lô. Người lớn, trẻ em đi bộ ai cũng có lá cờ phất phất trên tay. Quanh các trạm gác, bộ đội và quân dân quây quần thân thiết như những người thân xa nhau nay được gặp lại. Ở các nhà máy, các công sở, công nhân, nhân viên đều xếp hàng ra cổng đón tiếp niềm nở và hướng dẫn cán bộ ta đến nhận bàn giao cụ thể.
Đúng 16 giờ 30 phút, toán lính Pháp cuối cùng rút khỏi cầu Long Biên. Viên đại tá D’ Argence ôm “lá cờ tam tài” cùng Sainteny, tổng đại diện Pháp quay lại nhìn vào thủ đô Hà Nội rồi lặng lẽ lên xe và “cút thẳng” về phía Hải Dương.
Đêm hôm đó, Hà Nội bên ngoài yên tĩnh vì Ủy ban tiếp quản đã vào Thành và thiết quân luật, nhưng các phố đều bừng sáng các chụp đèn phòng thủ đã được tháo gỡ. Các chiến sĩ tuần tra trên hè phố cần mẫn, trang nghiêm, nhưng bên trong từng gia đình, từng cửa hiệu, từng công sở thì náo nhiệt, sôi động vì toàn thành chuẩn bị cho ngày mai đón Đại quân và Bộ Tư lệnh Quân chính về Hà Nội.
Ngày 10 tháng 10 năm 1954, mới chỉ 5 tháng trước đây, Đại đoàn Quân Tiên phong thay mặt các binh đoàn chiến thắng làm nhiệm vụ quân quản chiến trường Điện Biên Phủ, nơi có sở chỉ huy của tướng Đờcátxtơri - thì hôm nay 10 tháng 10 năm 1954, Đại đoàn lại vinh dự thay mặt toàn quân tiến vào quân quản thành phố Hà Nội, nơi đặt Sở chỉ huy của tướng Cô-nhi, tư lệnh các lực lượng viễn chinh Pháp quốc Hải ngoại Bắc Đông Dương.
Trên 2 hướng đông nam và tây bắc, đại quân ta tiến vào bằng hai cánh: Liên quân Đoàn Tu Vũ và Đoàn Bắc Bắc pháo binh cao xạ xuất phát từ Việt Nam học xá tiến vào nội thành qua đường Bạch Mai - Phố Huế - Hàng Bài - Hồ Gươm. Trung đoàn Thủ đô tiến quân từ Quần Ngựa qua Cửa Bắc, chợ Đồng Xuân - Hàng Đường - Hàng Ngang - Hàng Đào - Hàng Bông - nội thành.
Đoàn bộ của Ủy ban Quân chính đi theo hướng đông nam - mở đầu là xe dẫn đường của cảnh binh, tiếp sau là xe chỉ huy của Thiếu tướng Vương Thừa Vũ - Chủ tịch ủy ban Quân chính, người mà cách đây 9 năm là chỉ huy các lực lượng vũ trang Tổng khởi nghĩa ở Hà Nội trong Cách mạng tháng Tám 1945, nay lại trở về Thủ đô giải phóng. Theo sau là xe của bác sĩ Trần Duy Hưng - Chủ tịch ủy ban Hành chính Hà Nội, Phó Chủ tịch Ủy ban Quân chính Hà Nội. Đội hình sau đó là xe của cơ quan Quân quản các đoàn pháo binh - súng cối - cao xạ rầm rập tiến qua các đường phố lớn của Thủ đô. Hai bên đường hàng chục vạn đồng bào nội thành Hà Nội, cờ, hoa, hương án lư trầm nghi ngút hương thơm ngào ngạt - quần áo muôn màu rực rỡ có pháo nổ liên hồi, nghênh đón Đoàn quân giải phóng.
Hôm qua (9-10-1954), Hà Nội rợp bóng cờ hoa, hôm nay không khí thêm xúc động. Những đôi chân hôm qua còn là “Vạn lý trường chinh”, hôm nay rầm rập tiến trên đường phố Thủ đô giữa rừng cờ, biển người với muôn ngàn bó hoa tung lên trong tình thương yêu trìu mến của đồng bào. Không gian Hà Nội như xao xuyến hẳn lên trong nhịp bước quân hành.
Lễ trường được tổ chức tại chân cột cờ cổ kính của thành Hoàng Diệu. Đúng 15 giờ, còi nhà hát thành phố nổi lên vang vang trầm bổng - đoàn quân nhạc cử bài Tiến quân ca dưới sự điều khiển của đồng chí Đinh Ngọc Liên nhạc trưởng (người từng chỉ huy dàn nhạc Bảo an binh mừng thành công của Cách mạng tháng Tám). Cả lễ trường im lặng, kính cẩn nhìn lên lá Quốc kỳ phấp phới bay trên đỉnh cột cờ cao ngất.
Thiếu tướng Vương Thừa Vũ đọc lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi đồng bào Thủ đô yêu quý, trân trọng rõ từng lời:
“Tám năm qua, Chính phủ phải xa Thủ đô để kháng chiến cứu nước. Tuy xa nhau, nhưng lòng Chính phủ luôn luôn cạnh đồng bào.
Ngày nay do nhân dân ta đoàn kết nhất trí, quân đội ta chiến đấu anh dũng, hòa bình đã thắng lợi, Chính phủ lại trở về Thủ đô, với đồng bào. Muôn dặm một nhà, lòng vui mừng không xiết kể!
... Chính phủ và nhân dân ta phải cùng nhau cố gắng nhiều để khôi phục, củng cố và phát triển đời sống tinh thần và vật chất của Thủ đô ta”1.
Những lời tâm huyết của Bác Hồ sao mà thiết tha, thấm thía, mọi người rưng rưng xúc động, tự hào về Đảng và lãnh tụ kính yêu; tự hào vì nhân dân và quân đội anh hùng.
Những ngày cuối tháng 10 năm 1945, trong thời gian làm công tác quân quản, Đại đoàn Quân Tiên phong được phân khu vực làm công tác dân vận, xây dựng chính quyền đoàn thể, xây dựng mối quan hệ đoàn kết keo sơn cá nước giữa quân và dân. Cán bộ, chiến sĩ đã tích cực góp phần giáo dục truyền thống cho học sinh và thanh thiếu niên. Nhiều đồng chí từng chiến đấu bảo vệ Thủ đô trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến, nay dẫn mọi người đi thăm lại “chiến trường xưa” trong lòng Hà Nội, kể những mẩu chuyện chiến đấu mà mình tham gia.
Đây là Liên khu 1 anh hùng với những Hàng Thiếc - Hàng Đào - Hàng Ngang - chợ Đồng Xuân - Bắc Bộ Phủ - Trường Ke - nhà Xô Va, nơi Trung đoàn Thủ đô từng kiên cường chiến đấu, giam chân quân địch ròng rã 2 tháng, với ý chí “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Đây là trụ sở của Bộ Tổng tham mưu ở phố Nguyễn Du, nơi sinh ra Đại đội Tô Văn của tiểu đoàn 29. Kia là trường Bưởi, nhà Thủy phi cơ, Việt Nam học xá, nhà thương Cống Vọng, nơi tiểu đoàn 23 - tiểu đoàn 626 (sau này thuộc Trung đoàn Tu Vũ) đã chiến đấu quyết liệt để giành giật với địch từng căn nhà, từng đoạn phố, từng ngã ba đường.
Đây là Gia Lâm, cầu Đuống, Yên Viên, nơi mà nhiều đơn vị (sau được biên chế vào Trung đoàn Bắc Bắc và Trung đoàn Tu Vũ, thuộc Đại đoàn Quân Tiên phong) từng có những trận đánh giáp lá cà, quần thảo quyết liệt với địch. Còn đây là trận địa pháo binh Láng – Xuân Tảo - Xuân Canh mà các pháo thủ Đoàn pháo binh đã từng giáng cho địch những đòn pháo kích mãnh liệt.
Tám năm đã trôi qua. Các chiến sĩ bảo vệ Thủ đô năm xưa đã ra đi và hẹn sẽ có ngày trở lại. Họ đã không lỗi hẹn khi trở về trong chiến thắng.


