Khác

NGHỆ THUẬT ĐÁNH VÀO LÒNG NGƯỜI – BẢN HÙNG CA BINH VẬN VÙNG CHĂM BỨC HÀNG ĐỒN HỮU ĐỨC VÀ HẬU SANH (THÁNG 5/1954) - ĐỒNG CHÍ TRẦN THI

Khánh Hòa30/09/2026Phạm Thanh Mân ((NT) Xã Ninh Phước)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

đời người làm cách mạng từng chứng kiến biết bao đòn đánh công kiên bằng súng đạn, lựu đạn bộc phá, nhưng trận hạ đồn Hữu Đức và đồn Hậu Sanh vào giữa tháng 5/1954 mãi mãi là một tuyệt tác về nghệ thuật quân sự nhân dân: công tâm vi thượng – đánh vào lòng người là thượng sách.

Thực dân Pháp khi đặt chân lên đất Ninh Thuận luôn ôm mộng thâm độc: dùng chính sách "chia để trị", kích động hằn thù dân tộc Kinh – Chăm, dùng tiền tài và súng đạn ép con em người Chăm vào lính bảo an để giữ đồn, dùng người Chăm đánh lại người Kinh, biến đồng bào thành lá chắn đỡ đạn cho chúng.

Thế nhưng, kẻ thù không thể ngờ rằng, từ ngọn cờ đại đoàn kết của Mặt trận Việt Minh năm 1945, từ sự chung lưng đấu cật chia nhau từng củ sắn lùi thời mở căn cứ CK7 trên dãy Hòn Thông, tình nghĩa ruột thịt Kinh – Chăm đã kết thành khối thép. Tháng 5/1954, khi tin sấm sét Điện Biên Phủ dội về, chúng ta đã biến chính âm mưu thâm độc của giặc thành mồ chôn đồn bót của chúng bằng ba mũi giáp công tài tình: Đạo lý – Tình thâm – Hỏa lực.

1. Đánh trúng tâm lý, khơi dậy bản sắc đạo lý: Vai trò của các vị Cả Sư và bô lão Chăm

Trong xã hội Chăm truyền thống, các vị chức sắc tôn giáo (Bàlamôn giáo, Bàni giáo) và các già làng, bô lão có vị trí tinh thần tối thượng. Lời nói của vị Cả Sư còn nặng hơn vàng, có sức lay động sâu xa đến tâm thức của từng người con trong buôn làng:

  • Sự nhạy bén của Đảng bộ:

  • Ngay khi có tin thắng trận Điện Biên Phủ, tôi cùng các đồng chí trong Huyện ủy và Ban Chỉ huy quân sự huyện không vội vã phát lệnh nổ súng đánh công kiên. Nếu dùng pháo đạn đánh thẳng vào đồn Hữu Đức, Hậu Sanh, máu của con em đồng bào Chăm sẽ đổ, xóm làng chùa tháp có nguy cơ bị đạn pháo giặc tàn phá.

  • Chúng tôi lập tức cử cán bộ am hiểu phong tục Chăm bí mật đến gặp gỡ, đàm đạo với các vị Cả Sư (Po Gru), chức sắc tôn giáo và bô lão có uy tín tại Hữu Đức và Hậu Sanh.

  • Lời hiệu triệu của lương tri và thần linh:

    • Cán bộ ta giãi bày cặn kẽ: Cách mạng đánh Pháp là để giành độc lập cho cả dân tộc Việt Nam, trong đó có đồng bào Chăm; Bác Hồ luôn coi người Kinh và người Chăm như anh em một nhà. Nay quân đội Pháp ở Điện Biên đã đầu hàng, ngày tàn của thực dân đã điểm. Nếu con em trong đồn tiếp tục cầm súng bảo vệ giặc Tây, không chỉ có tội với Tổ quốc mà còn là tội ác chống lại dòng giống, tổ tiên, vi phạm giáo lý thiêng liêng của đạo Bàlamôn và Bàni.

  • Thấu suốt lẽ phải, các vị Cả Sư đã khẳng khái nhận lời giúp cách mạng. Các vị đã đích thân viết thư tay bằng chữ Chăm truyền thống, thậm chí khoác áo choàng tôn nghiêm cùng các già làng chống gậy tiến thẳng ra trước cổng đồn Hữu Đức.

  • Lời răn dạy lay động lòng binh lính:

    • Đứng trước họng súng của lính gác, các vị Cả Sư cất tiếng răn dạy đanh thép mà từ tốn bằng tiếng mẹ đẻ Chăm:

    "Hỡi con em làng Hữu Đức, Hậu Sanh! Thần linh Pô Klong Garai, PôRôMê không dạy các con cầm súng của giặc Pháp bắn vào cha mẹ, anh em mình. Giặc Tây đã thua ở Điện Biên Phủ rồi, đất nước sắp thái bình. Các con hãy buông súng trở về làm lễ tẩy trần, về với ruộng đồng palei, đừng để máu của dòng họ phải rơi vì ngoại bang!".

    • Lời răn dạy của vị chức sắc tối cao vang vọng qua làn rào thép gai như một mệnh lệnh tinh thần tối thượng. Binh lính Chăm trong đồn rụng rời tay súng, cúi đầu hổ thẹn, chút ý chí kháng cự cuối cùng theo lệnh quan Pháp tan biến như sương khói.

    2. Tiếng gọi máu mủ trước cổng đồn: Sức mạnh nghẹn ngào của "Đội quân tóc dài"

    Nếu tiếng nói của các chức sắc tôn giáo đánh gục ý chí tinh thần của binh lính, thì đòn binh vận của các mẹ, các chị người Chăm chính là giọt nước tràn ly làm tan rã hoàn toàn hàng ngũ giặc:

    • Biển người bao vây không vũ khí:

    • Phối hợp nhịp nhàng với các vị bô lão, rạng sáng ngày hạ đồn, hàng trăm phụ nữ – là mẹ, vợ, chị, em của những người lính đang bị nhốt trong đồn Hữu Đức và Hậu Sanh – trong trang phục truyền thống Chăm đã rầm rộ kéo đến vây chặt các ngả đường dẫn vào đồn.

  • Họ không mang súng gươm, chỉ mang theo nước mắt, những chiếc khăn thêu và tình thương máu mủ ruột rà.

  • Tiếng khóc xé lòng đánh gục nòng súng giặc:

    • Dưới chân hàng rào thép gai bùng nhùng, các bà mẹ người Chăm quỳ xuống cát, cất tiếng gọi tên từng đứa con thơ dại: "Thằng Ja... ơi! Thằng Inh... ơi! Mẹ đứng đây đợi con! Tây nó thua rồi, con ở trong đó chết oan uổng thì ai cúng giỗ mẹ cha? Buông súng ra với mẹ đi con!".

  • Những người vợ bồng con nhỏ áp sát mép hào, đứa trẻ khóc thét đòi cha. Cảnh tượng lay động đến tận cùng tâm can.

  • Ở bên trong, những người lính Chăm vốn bị ép đi lính nghe tiếng mẹ già, vợ dại gọi tên mình thì ruột gan như thắt lại. Nhiều binh sĩ vứt súng xuống đất, ôm mặt khóc nức nở. Tên sĩ quan chỉ huy Pháp và vài tên ác ôn gầm rú, rút súng lục dọa bắn những ai có ý định đào ngũ, nhưng lập tức bị hàng chục họng súng của binh lính dưới quyền quay ngoắt lại khống chế.

  • 3. Vòng vây lửa áp sát: Đòn răn đe quân sự không thể kháng cự

    Song song với đòn công tâm binh vận mãnh liệt từ bên ngoài, lực lượng vũ trang của ta đã tạo nên một áp lực quân sự nghẹt thở, tước bỏ hoàn toàn mọi hy vọng kháng cự hay chờ viện binh của địch:

    • Thế trận vây hãm chặt như nêm:

    • Lực lượng vũ trang huyện Ninh Hải Thượng phối hợp với du kích các làng Hữu Đức, Hậu Sanh, Phước Hữu đã đào công sự, giao thông hào áp sát từng mét rào kẽm gai.

  • Các tay súng bắn tỉa của ta chiếm lĩnh các vị trí đắc địa trên cây cao, gò đất, khóa chặt các lỗ châu mai; súng cối dã chiến hướng thẳng vào sở chỉ huy đồn sẵn sàng phát hỏa nếu có tên ngoan cố nổ súng vào đồng bào.

  • Chặt đứt huyết mạch chi viện:

    • Các mũi du kích phục kích sẵn tại các trục đường nối về thị xã Phan Rang và đường xe lửa Tháp Chàm, phát tín hiệu đanh thép: viện binh không thể đến cứu, đường rút chạy đã bị bịt kín.

  • Toàn bộ nguồn tiếp tế nước uống, lương thực của đồn bị nhân dân cắt đứt tuyệt đối. Địch trong đồn rơi vào thế "nội công ngoại kích", tuyệt vọng cùng cực.

  • 4. Khúc khải hoàn trọn vẹn: Đồn đầu hàng, buôn làng ca vang

    Trước sức mạnh tổng hợp khủng khiếp của thế trận "Đạo lý tôn giáo – Tình cảm gia đình – Vòng vây quân sự", kết cục tất yếu đã diễn ra:

    • Tại đồn Hữu Đức:

    • Binh lính bảo an trong đồn đã đồng loạt nổi dậy, tước vũ khí của số ít tay sai phản động, cử đại diện mở toang cổng đồn và kéo lá cờ trắng xin hàng vô điều kiện.

  • Hàng trăm bà con và bộ đội ta ùa vào trong tiếng reo hò dậy đất. Binh lính bước ra, quỳ sụp xuống ôm lấy mẹ, lấy vợ trong nước mắt nghẹn ngào của ngày đoàn tụ.

  • Ta bắt sống toàn bộ quân địch, tiếp quản nguyên vẹn kho vũ khí, súng đạn, khí tài mà không tốn một viên đạn, không một người dân hay chiến sĩ nào bị thương vong.

  • Tại đồn Hậu Sanh:

    • Chứng kiến đồn Hữu Đức kề bên đã quy hàng, toán lính đồn Hậu Sanh hoàn toàn tan rã ý chí. Tên chỉ huy đồn hoảng sợ dẫn một toán tàn quân toan mở đường máu tháo chạy về hướng núi để trốn về Phan Rang, nhưng vừa ra khỏi đồn đã bị các tổ du kích mật phục sẵn dưới chân tháp PôRôMê tóm gọn toàn bộ.

  • Đồn Hậu Sanh bị xóa sổ, cánh cửa huyết mạch nối đồng bằng lên Mật khu CK7 trên đỉnh Hòn Thông được mở toang hoàn toàn trong niềm vui vỡ òa của đồng bào Kinh – Chăm.

  • Ý NGHĨA LỊCH SỬ VÀ BÀI HỌC VÔ GIÁ

    Chiêm nghiệm lại chiến công bức hàng hai đồn Hữu Đức và Hậu Sanh tháng 5/1954, người cộng sản tiền bối Trần Thi luôn khẳng định:

    Đó là một trong những trang sử chói lọi nhất về nghệ thuật dân vận và công tác binh vận của Đảng ta:

    1. Đỉnh cao của nghệ thuật "Đánh vào lòng người" (Công tâm vi thượng): Chúng ta đã vận dụng tài tình chiến thắng Điện Biên Phủ để đánh sập tinh thần giặc; nhưng cái gốc sâu xa là đã biết dựa vào văn hóa, phong tục, đạo lý thiêng liêng của đồng bào Chăm để thức tỉnh lương tri của những người lính lầm đường lạc lối.

  • Biểu tượng bất tử của khối đại đoàn kết Kinh – Chăm: Thực dân Pháp rắp tâm gieo rắc chia rẽ, nhưng chính tình nghĩa ruột thịt giữa cán bộ người Kinh với các vị Cả Sư, bô lão và nhân dân Chăm đã đập tan mưu đồ ấy. Việc bảo vệ nguyên vẹn các palei Chăm, bảo vệ ngôi tháp cổ PôRôMê không bị vấy máu bom đạn năm 1954 mãi mãi là minh chứng thiêng liêng cho thấy: Đảng vì Dân, Dân tin Đảng, Kinh – Chăm một lòng thì không một thế lực hung bạo nào có thể đánh bại.

  • Chiến thắng bức hàng đồn Hữu Đức và Hậu Sanh mùa hè năm 1954 đã khép lại vẻ vang trang sử 9 năm kháng chiến chống Pháp trên quê hương Ninh Phước, để lại bài học xương máu về công tác vận động quần chúng cho sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ và công cuộc xây dựng, bảo vệ quê hương hôm nay.

    Bạn cũng đang lưu giữ
    một câu chuyện lịch sử?

    Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

    Gửi câu chuyện của bạn
    NGHỆ THUẬT ĐÁNH VÀO LÒNG NGƯỜI – BẢN HÙNG CA BINH VẬN VÙNG CHĂM BỨC HÀNG ĐỒN HỮU ĐỨC VÀ HẬU SANH (THÁNG 5/1954) - ĐỒNG CHÍ TRẦN THI | Câu chuyện thời hoa lửa