DI SẢN NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ CỦA TỔ TIÊN Nghiên cứu về chiến tranh và nghệ thuật quân sự Việt Nam trong lịch sử chống ngoại xâm từ thế kỷ III trước công nguyên đến thế kỷ XVIII, có thể phân các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh thành hai loại, đó là các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng, và các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Nghệ thuật quân sự trong giai đoạn này vì thế cũng bao gồm cả nghệ thuật khởi nghĩa vũ trang, nghệ thuật quân sự của chiến tranh giải phóng và nghệ thuật quân sự của chiến tranh giữ nước. Sự hình thành và phát triển liên tục kế tiếp nhau và đan xen nhau của các loại hình đó đã đưa đến sự hình thành và phát triển mạnh mẽ, đặc sắc của một nền nghệ thuật quân sự Việt Nam mà chúng ta đã thừa kế, vận dụng. “Nền độc lập của nước ta gắn liền với những chiến công oanh liệt của cha ông ta chống lại nhiều đạo quân xâm lược rất mạnh…” Các cuộc chiến tranh trong lịch sử của dân tộc ta diễn ra trong những hoàn cảnh khác nhau, nhưng những chiến công hiển hách của Tổ tiên ta đều có những biểu hiện tương đối thống nhất của một nền nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh độc đáo, ưu việt. “Chủ nghĩa Mác-Lênin không phủ định lịch sử và tinh hoa của một dân tộc; ngược lại nó còn phát triển những tinh hoa đó đến một trình độ mới trong điều kiện lịch sử mới. Trải qua mấy nghìn năm lịch sử, dân tộc ta đã từng bao phen anh dũng đứng dậy chống nạn ngoại xâm, giữ gìn độc lập cho đất nước. Trong các cuộc đấu tranh vũ trang đó, dân tộc ta đã có những sáng tạo kiệt xuất về tài thao lược.”1. Trước nạn ngoại xâm, dân tộc ta không có con đường nào khác là con đường đứng lên cầm vũ khí chống quân thù. Nhưng quân xâm lược là một kẻ địch có lực lượng quân sự mạnh hơn ta gấp nhiều lần. Để đánh bại một kẻ địch như vậy, Tổ tiên ta đã biết tìm sức mạnh trong khối đoàn kết toàn dân. Còn phải sáng tạo ra cách đánh như thế nào để đánh thắng địch. Đất nước ta không rộng, người nước ta không đông, địch là một nước lớn, người nhiều của nhiều. Cho nên để giữ gìn đất nước, yêu cầu của dân tộc ta là phải đánh quyết liệt, phải thắng oanh liệt, phải lập nên những chiến công vang dội, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, làm tan rã ý chí xâm lược của chúng. Do điều kiện lịch sử trước đây, nền nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh của Tổ tiên ta không thoát khỏi sự ràng buộc và hạn chế ý thức hệ phong kiến, nhưng từ đời này qua đời khác, nó cũng đã được xây dựng tương đối toàn diện. Đặc điểm nền nghệ thuật đó là: 1. Nghệ thuật đó không những chỉ đạo lực lượng vũ trang, mà còn chỉ đạo nhân dân vũ trang kết hợp với lực lượng vũ trang. Nghệ thuật do không chỉ dựa vào quân đội, mà dựa vào dân chúng và quân đội để giành chiến thắng. Toàn dân đánh giặc, điều đó đã được nhiều cuộc chiến tranh chống xâm lược trong lịch sử ta chứng minh. Nhân dân không những cất giấu lương thực, thực hành "thanh giã” gây cho địch nhiều khó khăn về tiếp tế lương thực, mà còn trực tiếp giết giặc. Ở nước ta, "giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh”, thiếu niên, phụ lão cũng đánh, những điều đó đã có từ ngàn xưa. Nêu lên điểm đó, nhà quân sự vĩ đại Trần Quốc Tuấn có nói: "Cả nước góp sức chiến đấu nên giặc phải bó tay". Theo nhà sử học thế kỷ thứ XIX Phan Huy Chú thì "đời Trần nhân dân ai cũng là binh, nên mới phá được giặc dữ, làm cho thế nước được mạnh "[/i]2. Với lực lượng vũ trang của cả nước, lực lượng vũ trang các địa phương kết hợp với thổ binh, hương binh, dân binh và dân chúng, sức mạnh của toàn dân, toàn quân được phát huy đến độ cao để diệt giặc. 2. Trong điều kiện ta là một nước đất không rộng, người không đông, phải đánh thắng những quân đội xâm lược lớn mạnh, dân tộc ta đã tạo nên một nghệ thuật mà Tổ tiên ta gọi là "lấy ít đánh nhiều, lấy yếu trị mạnh, lấy đoản chống trường". Trong nhiều cuộc chiến tranh, quân và dân ta đã đánh địch cả ở trước mặt và sau lưng, đánh địch tại chỗ, không những tiêu diệt sinh lực địch mà còn làm tan rã quân xâm lược về tổ chức và về tinh thần, không những đánh tập trung mà còn đánh phân tán, dùng nhiều cách đánh, đánh những đòn oanh liệt làm cho địch gãy xương sống, nát xương sườn. Tổ tiên ta coi trọng việc dùng lực lượng một cách hợp lý, nhằm đạt hiệu lực cao, như Nguyễn Trãi nói: "sức dùng có nửa, công được gấp đôi". Không những biết giành thắng lợi quân sự quyết định mà còn có biện pháp để củng cố những thắng lợi đó. Câu ca dao từ ngàn xưa: "Nực cười, châu chấu đá xe Tưởng rằng chấu ngã ai dè xe nghiêng”. có thể nói lên phần nào đặc điểm này.
------------ 1. Võ Nguyên Giáp - Mấy vấn đề về đường lối quân sự của Đảng ta. Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1970 tr 43.
2. Phan Huy Chú - Lịch triều hiến chương loại chí, tập IV, bản dịch. Nhà xuất bản Sử học. Hà Nội, 1961, tr 6.
| |
Logged
|
|
|
|
Giangtvx Thượng tá  Bài viết: 25560 | 
| Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố« Trả lời #2 vào lúc: 02 Tháng Năm, 2016, 05:24:54 am » | 3. Nghệ thuật đó xây dựng trên cơ sở một tinh thần yêu nước rất cao, một tinh thần quật cường bất khuất, tự lập tự cường rất mạnh, trên cơ sở tính chất chính nghĩa của cuộc chiến tranh, nên có sức sống mãnh liệt, có tinh thần tích cực chủ động rất cao. Nền nghệ thuật đó biết phát huy những chỗ mạnh mọi mặt của mình nhất là chỗ mạnh về tính chất chính nghĩa, về ý chí bất khuất kiên cường của dân tộc, về chất lượng mọi mặt của quân đội, để đánh quân địch vào chỗ chúng yếu, lúc chúng yếu. Nhiều nhà quân sự nổi tiếng thời xưa thường nhấn mạnh cách đánh chủ động linh hoạt, nhử người đến, chứ không để người nhử, cách đánh vu hồi, bao vây chặt chẽ để tiêu diệt gọn, tiến công liên tục, dồn địch vào thế bị động chịu đòn, không có cách nào thoát khỏi bị tiêu diệt. 4. Nghệ thuật đó rất sáng tạo, độc đáo, rất xuất sắc, tinh vi, rất mưu trí và linh hoạt: “Ông cha ta ngày trước có nhiều sáng tạo về cách đánh giặc, không có sáng tạo đó, không thể giữ được nước, không thể giành lược tự do "1. “Anh dũng và thông minh là hai yếu tố tạo nên súc mạnh của dân tộc ta trong chiến đấu chông ngoại xâm“2. Tổ tiên ta biết dựa trên yếu tố chính nghĩa, trên tinh thần yêu nước nồng nàn và chiến đấu anh dũng của quân và dân, phát huy mọi cái mạnh của ta trong điều kiện ta chiến đấu trên đất nước mình, đánh bại những đạo quân xâm lược từ xa đến, mà sáng tạo ra cách đánh của ta, buộc địch phục tùng ý chí của ta, buộc địch đánh theo cách đánh có lợi cho ta, không cho địch đánh theo cách đánh sở trường của chúng. Nguyễn Huệ nói: "Người khéo thắng là thắng ở chỗ rất mềm dẻo, chứ không phải lấy mạnh đè yếu, lấy nhiều hiếp ít"3. Trong chỉ đạo chiến tranh, Trần Quốc Tuấn nhấn mạnh: “Phải xem xét tình thế biến chuyển như người đánh cờ, tùy theo thời cơ mà ứng biến cho đúng"4. Ngô Thời Nhiệm, một tướng giỏi của Nguyễn Huệ, cho rằng là một người tướng giỏi phải biết "lường thế giặc rồi mới đánh, nắm phần thắng rồi mới hành động, tùy theo tình thế thay đổi mà bày ra chước lạ"5. Sức sáng tạo của dân tộc ta thể hiện ở chỗ, không phải chỉ có quân đội đánh giặc, mà là cả nhân dân và quân đội cùng đánh. Ta yếu mà ta đánh thắng đó cũng là sáng tạo. Sự nỗ lực chủ quan phi thường của toàn dân tộc, sức sống mãnh liệt của nền nghệ thuật đó cũng nói lên sức sáng tạo này. Nền nghệ thuật đó dựa trên cơ sở đánh giá địch ta một cách bình tĩnh, hiểu địch, hiểu ta một cách sâu sắc. Trần Quốc Tuấn cho rằng: "Nếu thấy quân giặc tràn sang như gió như lửa, thì thế giặc có thể dễ chống cự được"6. Nguyễn Trái nói: "Tri kỷ tri bỉ, năng nhược năng cường”7. Nghĩa là biết người biết ta, có thế yếu, có thế mạnh.
--------------- 1. Lê Duẩn - Thanh niên trong lực lượng vũ trang hãy vươn lên hơn nữa phấn đấu cho lý tưởng cách mạng, đi đầu trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1969, tr.2.
2. Lê Duẩn - Cứu nước là nghĩa vụ thiêng liêng của cả dân tộc ta. Tạp chí Quân đội nhân dân, số 12 năm 1960 tr.5.
3. Tây Sơn bang giao íập. Dẫn trong "Tim hiểu thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ" của Nguyễn Lương Bích, Phạm Ngọc Phụng, nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1971, bản in lần thứ hai, tr.344.
4. Việt sử thông giám cương muc, Tập V, bản dịch, tr. 100.
5. Ngô gia văn phái - Hoàng Lê nhất thống chí, bản dịch Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1964, tr.342. 6. Việt sử thông giám cương mục, tập V, tr. 99. 7. Thơ chữ Hán Nguyễn Trãi, bản dịch, Nhà xuất bản Văn hóa, Hà Nội, 1962, tr. 115.
| |
Logged
|
|
|
|
Giangtvx Thượng tá  Bài viết: 25560 | 
| Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố« Trả lời #3 vào lúc: 02 Tháng Năm, 2016, 05:30:08 am » | Tổ tiên ta đã không nao núng vì sức mạnh tạm thời của địch, không bị uy hiếp vũ bão bên ngoài của chúng. Những nhà quân sự thời xưa của ta hiểu rõ ta không phải chỉ có yếu, mà còn có mạnh, hơn nữa có những chỗ mạnh rất cơ bản; còn địch, không phải chỉ có mạnh, mà còn có yếu, những chỗ yếu trí mạng tất yếu; đồng thời cũng thấy rõ những chỗ và lúc địch yếu, ta mạnh để có những chủ trương chiến lược thích hợp. Nhìn bao quát cả cuộc chiến tranh, Tổ tiên ta không sợ địch, tin tưởng mình có thể đánh bại địch. Trong việc xử trí tình huống chiến lược cụ thể thì không khinh địch, đánh giá đúng mức sức mạnh ban đầu của quân xâm lược: lúc quân địch còn mạnh thì ta hành động rất thận trọng, nhưng khi địch đã trở thành yếu lại hành động rất táo bạo. Trước thanh thế lớn lao của quân Thanh tiến vào xâm lược nước ta, lời phân tích của Ngô Thời Nhiệm sau đây nêu rõ được phần nào điều đã nói trên: “Giống như đánh cờ, trước thì chịu thua người một nước, sau mới được người ta một nước; đừng có đem nước sau làm nước trước, đó mới là tay cao cờ. Nay ta hãy bảo toàn lấy quân lực mà rút lui, không bỏ mất một mũi tên. Cho chúng ngủ trọ một đêm, rồi lại đuổi đi, cũng như ngọc bích, của nước Tấn đời xưa, vẫn nguyên lành chứ có mất gì”1, (chúng tôi nhấn mạnh T.G). Trên cơ sở đánh giá đúng đắn tình thế khách quan, biết địch biết ta một cách đúng đắn, Tổ tiên ta đã phát huy đến mức độ cao nỗ lực chủ quan, phát huy đến độ cao trí tuệ của mình, tìm ra trăm phương nghìn kế, khắc phục muôn vàn khó khăn gian khổ và đã lập nên những chiến công kỳ lạ. Đó cũng chính là điều kiện làm cho tính sáng tạo trong nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh đạt đến trình độ rất cao, câu nói của Nguyễn Trãi có thể nêu rõ điều đó: “Có lẽ nhiều tai nạn chính là cái gốc để dựng nước, mà sự băn khoăn lo lắng cũng là cái nền đề mở ra nghiệp thánh. Trải biến cố nhiều thì trí lự sâu. Lo công việc xa thì thành công kỳ. Đế vương nổi lên, ai cũng thế này”2. Yếu có thể đánh mạnh, ít đánh nhiều là do tinh thần dũng cảm, dám đánh và sau đó là biết đánh: đánh mai phục, lừa địch vào sâu, toàn dân đều đánh, v.v. Có thể nêu lên một số nội dung chính của nền nghệ thuật đó thành 3 vấn đề lớn như sau: A. Chỉ đạo quân sự. B. Địch vận. C. Đấu tranh vũ trang và đấu tranh ngoại giao.
-------------------- 1. Ngô gia văn phái, tài liệu đã dẫn, tr. 342. 2. Nguyễn Trãi. Chí Linh sơn phú. | |
Logged
|
|
|
|
Giangtvx Thượng tá  Bài viết: 25560 | 
| Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố« Trả lời #4 vào lúc: 02 Tháng Năm, 2016, 05:38:03 am » | A - CHỈ ĐẠO QUÂN SỰ 1. Trong chỉ đạo tác chiến về chiến lược, chiến thuật, dân tộc ta đã từng có kinh nghiệm tốt về đánh lâu dài: Xét thực tiễn diễn biến của nhiều cuộc chiến tranh thắng lợi có thể thấy rõ Tổ tiên ta không bao giờ đi chệch khỏi mục đích quân sự cuối cùng là tiến công tiêu diệt địch trên đất nước ta. Nhưng Tổ tiên ta cũng không hề tách mục đích cần đạt đó với điều kiện khách quan là lúc đầu lực lượng quân sự địch mạnh, ta yếu. Trước quân địch lớn mạnh, các nhà quân sự ta đã biết tránh quyết chiến trong điều kiện không có lợi khi cuộc chiến tranh mới bắt đầu nhằm bảo toàn lực lượng tranh thủ thời gian, tạo nên thế có lợi cho ta, làm địch suy yếu, bồi dưỡng lực lượng ta, rồi từng bước tiêu diệt quân địch mà giành thắng lợi trong chiến tranh. Trong chiến tranh tự vệ, trước thế tiến công mạnh mẽ của quân địch có ưu thế về số lượng. Tổ tiên ta đã tránh không dốc toàn bộ lực lượng để hòng phân thắng bại, giành thắng lợi nhanh chóng ngay buổi đầu, mà đã biết thực hành rút lui chiến lược, có gan rút bỏ kinh đô, cho địch vào sâu mà tiêu hao địch. Trong chiến tranh chống quân Nguyên lần thứ nhất, trước ý định của vua Trần quyết chiến với địch trong điều kiện không có lợi ở gần biên giới, tướng Lê Phủ Trân đã can rằng: “Làm như vậy thì chỉ như những người dốc hết túi tiền để đánh nốt tiếng bạc mà thôi"1, và khuyên "hãy nên lánh đi”2. Trong chiến tranh chống quân Nguyên lần thứ hai, Trần Quốc Tuấn đã chủ trương “Nguyên binh khí nhuệ đương hưng, kịp đánh chẳng bằng kiên thủ chờ suy”3. Do đó quyết định rút khỏi Vạn Kiếp, rút khỏi kinh thành. Nhận xét về chủ trương rút bỏ Thăng Long của Ngô Văn Sở và Ngô Thời Nhiệm, Nguyễn Huệ đã đánh giá "Chịu nhịn để tránh sức mạnh ban đầu của chúng, đành hãy chỉnh đốn đội ngũ, rút về giữ chỗ hiểm yếu, trong thì khiên cho lòng quân kích thích, ngoài thì khiến cho lòng giặc kiêu căng…”4. Nhưng rút lui chiến lược của Tổ tiên ta có những nét độc đáo. Đất nước ta không rộng, chiều sâu không lớn, nếu cứ rút mãi thì sẽ không còn đất để mà rút, phải tự hãm mình vào thế bị động nghiêm trọng. Trong chiến tranh chống quân Nguyên lần thứ hai, Trần Quốc Tuấn đã chặn đứng địch ở phía nam, trong khi ở phía bắc thì chỉ huy chủ lực rút lui từng bước. Trong cuộc chiến tranh này cũng như nhiều cuộc chiến tranh tự vệ khác, khi chủ lực rút lui, quân địa phương vẫn ở lại phối hợp với thổ binh, dân binh, hương binh đánh địch tại chỗ, thực hiện rút phía trước nhưng đánh mạnh phía sau lưng địch. Tóm lại, trong quá trình rút lui vẫn tiến công tích cực. Trong lịch sử dân tộc, cũng có những nhà cầm quân không biết tiếp thu nghệ thuật đúng đắn đó của dân tộc, nên đã bị thất bại; trong chiến tranh chống quân Minh dưới thời Hồ, trận quyết chiến thất bại ở Đa Bang, rồi chỉ rút chạy dài mà không tích cực tiến công địch, đã đưa cuộc kháng chiến chính nghĩa của dân tộc ta đến thất bại. Thừa nhận sự cần thiết rút lui chiến lược, biết cách rút lui đúng đắn và có lợi, các nhà quân sự ta còn thông thạo trong việc tạo nên điều kiện để chuyển sang quật trả lại địch những đòn quyết liệt, biết vận dụng một cách sáng tạo nguyên tắc quân sự cổ điển "Dĩ dật đãi lao" tức là lấy nhàn chờ mệt, lấy mạnh chờ yếu, lấy sung sức chờ hao mòn. Trong quá trình phòng ngự, rút lui, không những đã liên tục tiêu hao địch, buộc địch phải chịu ảnh hưởng không lợi của khí hậu và địa hình nước ta, hãm chúng vào tình trạng thiếu lương thực nghiêm trọng, mà còn biết buộc địch rải quân ra (như Trần Quốc Tuấn) hoặc làm cho địch sơ hở phạm sai lầm (như Nguyễn Huệ) tức là tạo nên một thế chiến lược khiến cho địch từ mạnh trở thành yếu, tự bộc lộ nhược điểm, để diệt đội quân xâm lược lớn mạnh. Để đạt tới mục đích đó, các nhà quân sự ta thường dùng hai cách: Một là, khi địch đã rải quân, ta đi từ thắng lợi nhỏ, vừa, đến thắng lợi lớn, tạo nên bước ngoặt trong chiến tranh. Trong trường hợp này, Tổ tiên ta đã tỏ ra biết nắm quy luật phát triển của địch trong chiến tranh. Trong quá trình ta phản công, quân địch bị tiêu diệt từng bộ phận ngày càng lớn hơn, đến một mức nào đó, khi nhưng đạo quân nào đó bị tiêu diệt, thì đoàn quân xâm lược to lớn của địch bắt đầu tan rã (như Lý Thường Kiệt đánh quân Tống, Trần Quốc Tuấn đánh quân Nguyên). Khi chưa tạo ra được bước ngoặt chiến lược Tổ tiên ta biết đánh địch một cách vừng chắc. Khi thì lấy ít thắng nhiều, khi thì lấy nhiều thắng ít, tiêu diệt tiêu hao địch, tạo ra từng bước chuyển biến, nhưng chủ yếu vẫn là lấy ít thắng nhiều. Nhưng sau khi bước ngoặt diễn ra, lại táo bạo lấy ít đánh nhiều, dốc lực lượng thường không nhiều của mình đánh vào toàn bộ quân địch với số lượng còn to lớn nhưng chất lượng đã suy sụp mà giành thắng lợi quyết định cho cuộc chiến tranh tự vệ. Hai là, địch tuy chưa rải quân nhưng có sơ hở nên ta thực hành chia cắt địch ra từng mảng, giáng những đòn mãnh liệt vào chỗ hiểm nhất của địch, đánh vào trung tâm đầu não của chúng khiến cho địch choáng váng, kinh hoàng, rối loạn, tê liệt, (như Nguyễn Huệ đánh quân Thanh). Từ những cuộc chiến tranh thắng lợi đó có thể thấy rằng ngay trong khi rút lui chiến lược, các nhà quân sự ta luôn luôn nhằm vào mục đích phản công tiêu diệt địch, tích cực tạo điều kiện để chuyển sang phản công chiến lược. Trong phản công chiến lược đã sáng tạo ra cách đánh tiến công lần lượt hoặc đồng thời, tiến công từ nhỏ đến lớn hoặc đánh một đòn quyết định. -------------- 1, 2. Việt sử thông giám cương mục, tập V, tr.34.
3. Thiên nam ngữ lục. 4. Ngô gia văn phái, Hoàng Lê nhất thống chí, bản dịch của Ngô Tất Tố. Nhà xuất bản Mai Lĩnh, Hà Nội, 154, tr.531.
| |
Logged
|
|
|
|
Giangtvx Thượng tá  Bài viết: 25560 | 
| Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố« Trả lời #5 vào lúc: 02 Tháng Năm, 2016, 05:38:19 am » | Trong chiến tranh giải phóng, Tổ tiên ta đã thực hiện chiến lược đánh lâu dài một cách khác. Trong điều kiện dân tộc ta sống dưới sự thống trị của phong kiến nước ngoài và bè lũ tay sai, các nhà yêu nước ngày xưa đã nắm được khá chính xác tình hình so sánh lực lượng giữa hai bên, thấy rõ thế và lực của địch và ta, lãnh đạo dân tộc vùng lên khởi nghĩa, thực hành liên tục tiến công địch cho đến khi đánh đổ hoàn toàn nền thống trị của chúng. Lê Lợi, Nguyễn Trãi đã đưa cuộc khởi nghĩa Lam Sơn phát triển thành chiến tranh giải phóng lâu dài. Trong quá trình đó, về chiến lược ta không ngừng tiến công địch trong nhiều năm liền (không kể thời gian đình chiến) với quy mô ngày càng to lớn cho đến thắng lợi hoàn toàn. Còn địch thì không ngừng phản công hòng tiêu diệt lực lượng khởi nghĩa và khôi phục nền thống trị của chúng. Chúng nhiều lần tăng thêm quân đội từ chính quốc nhưng thế phản công chung của chúng không ngừng sút kém; chúng ngày càng đi sâu vào thế phòng ngự cho đến khi chịu thất bại hoàn toàn. Trên chiến trường, quá trình giao tranh giữa ta và địch diễn ra theo hình thái: ta tiến công và phản công đánh tan các cuộc phản công và tiến công của địch cho đến thắng lợi hoàn toàn. Khi mới bắt đầu đứng lên tiến công địch, tuy thế chính trị và chiến lược trên những mặt nào đó có lợi cho ta không lợi cho địch, nhưng lực lượng quân sự địch nhiều hơn ta. Trong điều kiện đó các nhà quân sự ta đã cho biết “chờ thời cơ để lừa khi địch mỏi mệt, giấu mũi nhọn và bít ánh sáng" buộc địch phải đánh lâu dài, ngày càng tiêu hao, suy yếu; còn ta có thể tránh thủ thời gian xây dựng, mở rộng lực lượng vũ trang và chỗ đứng chân của mình. Do đó mà tạo nên thời cơ chiến lược có lợi giáng cho địch những đòn quyết định, trong những năm sau của cuộc chiến tranh giải phóng lâu dài. Khởi nghĩa Lam Sơn và nhiều cuộc khởi nghĩa khác của dân tộc ta trong lịch sử đã sáng tạo ra một kinh nghiệm quý báu: Trong thế chính trị và chiến lược chung có lợi ích cho ta, không lợi cho địch ở một số mặt, có thể tạo thành ưu thế cục bộ mà tiến công địch, phát triển tiến công từ nhỏ đến lớn, từ cục bộ đến toàn cục, giành thắng lợi hoàn toàn trong chiến tranh giải phóng lâu dài. Có thể nói hình thái phát triển của những cuộc chiến tranh tự vệ và giải phóng đã nói trên như sau: Thời Lý: Phòng ngự chiến lược tích cực, phản công chiến lược. Thời Trần: Rút lui chiến lược, phản công chiến lược. Thời Tây Sơn: Rút lui chiến lược, phản công chiến lược. Thời Lê: Liên tục tiến công chiến lược từ nhỏ đến lớn (có 2 năm đình chiến). Thời Hồ: Phòng ngự, rút lui. Trong bốn cuộc chiến tranh thắng lợi trên, nhờ biết tránh quyết chiến chiến lược trong điều kiện không lợi, tiến lên quyết chiến trong điều kiện có lợi, Tổ tiên ta đã đưa chiến tranh lâu dài đến thắng lợi hoàn toàn. Ngược lại, trong chiến tranh thời Hồ, do bị buộc phải quyết chiến với địch trong điều kiện không lợi cho ta mà lợi cho địch, không biết bảo toàn chủ lực trong tình hình địch mạnh, ta yếu, dốc sức để phân thắng bại ngay từ đầu, kết quả là chủ lực tan vỡ. Do không nắm vững được quy luật chỉ đạo chiến tranh tự vệ theo chiến lược đánh lâu dài của thời Lý, thời Trần, nên bị thất bại là điều tất yếu. Đáng chú ý là các nhà quân sự của ta nghiên cứu, tham khảo Tôn Tử, nhưng không theo quan điểm "thắng nhanh" của Tôn Tử. Binh pháp Tôn Tử cho rằng "việc dùng binh, chỉ nghe nói có tốc quyết vụng về, chứ không thấy có lâu dài, khôn khéo; chiến tranh lâu dài mà có lợi cho quốc gia là việc không thế có". Biết đánh lâu dài, điều đó chứng tỏ tinh thần độc lập sáng tạo của Tổ tiên ta. Chính sách "Ngụ binh ư nông" (nghĩa là đặt binh ở nông thôn) được thi hành ở nước ta từ khá sớm, nhất là từ thời kỳ Lý, Trần trở đi. Chính sách đó nhằm bảo đảm có số quân tập trung của triều đình đến mức cần thiết và hợp lý, giảm một phần nào đóng góp của nhân dân và tiêu dùng của nhà nước, bảo đảm có sức sản xuất để đánh lâu dài. Điều quan trọng hơn nữa là với chính sách đó, ngoài việc bảo đảm có quân đội tập trung, còn tổ chức nên những đội dân binh (hương binh, thổ binh) bảo vệ các thôn, ấp, đánh địch tại chỗ. Thời Lê lại phát triển đến chính sách "vừa đánh giặc vừa cày ruộng" nhằm bảo đảm xây dựng "chỗ đứng chân” để từ đó tiến lên giải phóng toàn bộ đất nước. Đó là những điều kiện rất quan trọng để có thể đánh lâu dài. Đánh lâu dài rõ ràng là một kinh nghiệm quý báu của dân tộc ta. Khi thì đánh đòn phủ đầu trước, khiến địch phải tiến quân trong thế bị động, rồi chặn đứng địch trên tuyến thuận lợi đã chuẩn bị sẵn, chuyển sang quật trả địch (Lý). Khi thì cho địch vào thật sâu, buộc địch rải quân, rồi chọn thời gian, địa điểm tốt, đánh địch từng trận đến khi tiêu diệt toàn bộ (Trần). Khi thì lập chỗ đứng chân quần nhau lâu dài với địch, rồi tiến lên đánh bại hoàn toàn quân địch (Lê). Khi thì chủ động rút, nhân sơ hở của địch, điều động chủ lựe từ xa tới, chiến thắng địch trong một trận thần tốc (Tây Sơn)…Hình thức nhiều hình nhiều vẻ, nhưng nội dung là một: tránh quyết chiến với địch trong điều kiện không lợi, làm cho địch từ chiến lược đánh nhanh thắng nhanh phải chuyển sang đánh lâu dài, đợi cho địch từ mạnh trở thành yếu, lực còn nhiều nhưng thế đã yếu, số lượng còn đông nhưng chất lượng đã kém; còn ta thì giữ gìn và bồi dưỡng được lực lượng, tiến lên đánh cho địch một đòn hoặc nhiều đòn quyết chiến chiến lược liên tiếp, tiêu diệt phần lớn hay toàn bộ quân địch, giành thắng lợi to lớn. Điều đáng chú ý là, trong quá trình đánh lâu dài như vậy, các nhà quân sự ta đã biết chớp thời cơ có lợi chuyển sang giáng cho địch những đòn mãnh liệt, giành thắng lợi quyết định trong thời gian tương đối ngắn.
Trong các cuộc chiến tranh chống xâm lược của dân tộc ta, tư tưởng, đường lối chung về chiến lược là đánh lâu dài, vì quân xâm lược thường mạnh hơn quân ta lúc đầu. Nhưng căn cứ vào các điều kiện chủ quan, khách quan khác nhau về các mặt của cuộc chiến tranh mà tình hình lâu dài có khác nhau. Cũng có cuộc chiến tranh, giành thắng lợi trong một thời gian tương đối ngắn. |
|
|