Cựu chiến binh

Nghị Lực Thép Và Cuộc Đời Cống Hiến Của Người Lính Sáu Do

Đỗ Khánh Linh

Quảng Ngãi22/08/2026phường Trần Nhân Tông (Phường Trần Nhân Tông)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
Nghị Lực Thép Và Cuộc Đời Cống Hiến Của Người Lính Sáu Do
image.png

Đối với những người lính từng gắn bó với Trung đoàn 1-U Minh thuộc Sư đoàn 330 (Quân khu 9), hình ảnh người chỉ huy Sáu Do (Nguyễn Thành Do) không chỉ gắn liền với tài nghệ chỉ huy hỏa lực xuất sắc trên chiến trường mà còn là tấm gương sáng ngời về ý chí vượt lên thương tật để tiếp tục cống hiến cho quê hương.

Sinh năm 1948 tại vùng đất Bạc Liêu (nay thuộc tỉnh Cà Mau), năm 1968, chàng thanh niên Nguyễn Thành Do lên đường nhập ngũ và được điều động về Trung đoàn 1-U Minh. Những năm tháng đầu quân ngũ, ông đã cùng đồng đội tôi luyện qua thử thách khốc liệt tại “tọa độ lửa” lộ Vòng Cung (Cần Thơ) trước hỏa lực pháo bầy dồn dập của đối phương. Sau giai đoạn bám trụ kiên cường, ông chuyển sang địa bàn Long Mỹ, Vị Thanh và nhờ tinh thần chiến đấu quả cảm, mưu trí, ông được tin tưởng giao trọng trách Đại đội trưởng Đại đội súng máy 12,7mm.

Chiến công đi liền với sự hy sinh đáng nhớ nhất diễn ra vào tháng 3-1973 tại khu vực Kinh Cùng, xã Hòa An (huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang). Khi đối phương huy động hơn 30 xe bọc thép M113 kết hợp bộ binh tấn công dồn dập, ông đã bình tĩnh chỉ huy toàn đơn vị rút xuống hầm bí mật để bảo toàn lực lượng. Nhận thấy chiếc máy thông tin liên lạc PRC-25 vẫn còn trên công sự trước nguy cơ rơi vào tay giặc, ông lập tức lao ngược lên giữa làn đạn để thu hồi. Đúng lúc vừa chạm tay vào thiết bị, một quả đạn pháo nổ ngay bên cạnh khiến cánh tay trái của ông bị giập nát, nhưng tay còn lại vẫn giữ chặt chiếc máy thông tin mang về hầm.

Hành trình cấp cứu sau đó là thử thách tột cùng về sức chịu đựng khi ông phải trải qua 10 giờ lênh đênh trên xuồng ba lá để về tới đội phẫu thuật Kinh Bái. Khi đến nơi, vết thương đã bắt đầu hoại tử, cơ thể kiệt sức vì mất máu nghiêm trọng, trong khi trạm y tế dã chiến hoàn toàn cạn kiệt thuốc gây mê và thuốc tê. Trước tình thế nguy cấp đe dọa mạng sống, người chỉ huy trẻ chỉ biết nghiến chặt răng, kiên cường chịu đựng từng nhát dao cắt bỏ cánh tay bị thương trong ca mổ “sống” mà không một lời than vãn.

Dù mất đi một cánh tay, ông Sáu Do vẫn kiên quyết bám trụ đơn vị, tự rèn luyện để thuần thục mọi sinh hoạt và nhiệm vụ chỉ bằng một tay còn lại. Bản lĩnh kiên cường ấy đã nhận được sự tin tưởng tuyệt đối từ Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1 Phạm Văn Trà (sau này là Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng). Nhờ tài bố trí trận địa hỏa lực sắc bén và am tường địa hình, ông tiếp tục được giao những nhiệm vụ then chốt để bẻ gãy các đợt lấn chiếm của địch ở Ngã Năm, Kinh 13, rồi tiếp tục cầm súng bảo vệ chủ quyền biển đảo tại Phú Quốc, Thổ Chu trước quân xâm lược Pol Pot sau năm 1975.

Đến năm 1977, thương binh hạng 2/4 Sáu Do chuyển ngành về quê hương bắt đầu chặng đường mới. Nhận thấy hạn chế về trình độ văn hóa và quản lý, ông miệt mài theo học các lớp bổ túc ban đêm, sau đó tiếp tục hoàn thành chương trình lý luận chính trị tại Trường Nguyễn Ái Quốc II (nay là Học viện Chính trị khu vực II) ở TP Hồ Chí Minh. Bằng sự tận tâm và năng lực thực tế, ông được bổ nhiệm làm Phó giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Minh Hải khi mới 38 tuổi, luôn đem hết tâm sức và sự thấu cảm của một người lính đi qua chiến tranh để chăm lo chính sách cho các thương binh, thân nhân liệt sĩ tại địa phương.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn