quansuvn | 
| Phong trào Nam tiến 1945-1946« Trả lời #7 vào lúc: 24 Tháng Năm, 2021, 08:08:05 am » | Ngay trong những ngày Sài Gòn "trong đánh ngoài vây", những cuộc mít tinh, biểu tình sôi sục diễn ra trên cả nước, biểu thị lòng phẫn nộ và quyết tâm chiến đấu bảo vệ độc lập. Khẩu hiệu "đả đảo thực dân Pháp xâm lược", "Nước Việt Nam của người Việt Nam", "Ủng hộ Nam Bộ kháng chiến"... giương cao khắp thành thị, nông thôn. Hầu hết các tỉnh Bắc Bộ và Trung Bộ lập "Phòng Nam Bộ" ghi tên những người tình nguyện vào những đoàn quân Nam tiến. Danh sách người tình nguyện có già, trẻ, gái, trai, công nhân, nông dân, kỹ sư, nhà văn, nhà giáo, viên chức, cựu binh sĩ... Một số nhà sư cũng cởi áo cà sa tình nguyện lên đường giết giặc. Ba ngày sau khi quân Pháp khởi hấn ở Sài Gòn đã có đơn vị Nam tiến đầu tiên rời ga Hàng Cỏ, Hà Nội.
Ngay từ đợt đầu, lực lượng Nam tiến đã có nhiều đơn vị, nhiều chi đội giải phóng quân từ Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, chiến khu Đông Triều, Bắc Ninh, Bắc Giang, Thái Bình, Nam Định, đội du kích Ba Tơ...
Chỉ một thời gian ngắn, các tỉnh Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ đều tổ chức mỗi tỉnh từ một đến hai chi đội1 (Chi đội tương đương tiểu đoàn đến trung đoàn, cũng có chi đội tương đương đại đội) Nam tiến.
Suốt dọc đường Nam tiến, nhân dân mang cờ, băng khẩu hiệu, bánh trái, cơm nước ra đón bộ đội. Nam tiến trở thành hình ảnh cả nước ra trận và nói lên ý chí "nước Việt Nam là một".
Nhiều đơn vị Nam tiến đã kịp vào Nam tham gia chiến đấu trên mặt trận Thị Nghè, Cầu Bông... và suốt dải đất từ Sài Gòn đến Cực Nam Trung Bộ, miền Tây Nam Bộ.
Sát cánh đồng bào trong nước, cùng ý chí "độc lập hay là chết", "nước Việt Nam là một", theo tiếng gọi cứu nước, đồng bào Việt kiều trên đất Lào, Cam-pu-chia hướng về Tổ quốc khẩn cấp chuẩn bị sẵn sàng về Nam Bộ kháng chiến. Lúc bấy giờ bên bờ sông Mê Công thuộc đất Thái Lan đã có bốn vạn Việt kiều sinh cơ lập nghiệp, thêm sáu vạn Việt kiều từ Lào sang cũng sẵn sàng về nước chiến đấu. Tinh thần yêu nước của đồng bào Việt kiều luôn được nuôi dưỡng trong suốt quá trình tha phương sinh cơ ỉập nghiệp, được nung nấu từ các phong trào yêu nước thế kỷ XIX, từ khi Đảng cộng sản Đông Dương chuẩn bị thành lập, đặc biệt qua các lớp huấn luyện, bồi dưỡng cán bộ, tuyên truyền giáo dục lòng yêu nước trong đồng bào Việt kiều, do chính đồng chí Nguyễn Ái Quốc (lúc bấy giờ lấy tên là Thầu Chín) thực hiện, lại được sự đồng tình chống Nhật của Đảng Thái tự do (Sérithay); chiến khu Việt kiều cùng lực lượng "Việt Nam Độc lập quân" đã ra đời từ những ngày Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương.
Việt kiều Thái Lan (một phần lớn cũng đồng thời là Việt kiều Cam-pu-chia sau này, vì lúc bấy giờ một phần đất Tây Bắc Cam-pu-chia thuộc Thái Lan) thực sự trở thành hậu phương trực tiếp của mặt trận Lào - Cam-pu-chia và là lực lượng tiếp tế về Nam Bộ. Nam Bộ kháng chiến bùng nổ, chiến khu Việt kiều trên đất Thái Lan phát triển mạnh, thu hút những người tình nguyện vào lực lượng vũ trang chuẩn bị về nước, xây dựng thành từng đơn vị Hải ngoại, có tổ chức Đảng lãnh đạo, được huấn luyện và trang bị mạnh, đồng phục, đặc biệt là được rèn luyện ý chí chiến đấu. Từ trước ngày toàn quốc kháng chiến đến tháng 6 năm 1947, các chi đội Hải ngoại mang những tên Độc lập số 1, Quang Trung, Trần Phú, Cửu Long 2, với quân số mỗi chi đội từ trên dưới 100 đến trên 400 người đã lần lượt hành quân về nước.
Bên cạnh lực lượng Hải ngoại còn một lực lượng con em Việt kiều mang tên "Cao Miên Việt kiều cứu quốc quân" ra đời theo tiếng gọi thiêng liêng "cứu quốc".
Hướng về Tổ quốc, trên dưới hai tháng trời, chiến sĩ Hải ngoại vượt hàng trăm, hàng ngàn cây số từ Thái Lan qua đất nước Cam-pu-chia đang bị địch chiếm đóng, băng qua núi cao, rừng rậm, sông suối, chịu đói, chịu khát, bệnh tật, đánh địch mở đường mà đi, lập chiến công ngay trên đường hành quân. Có những ngày ăn chuối xanh, ăn mít non thay cơm, có những chiến sĩ đã ngã xuống mà chưa được nhìn thấy Tổ quốc...
Nam Bộ, Cực Nam Trung Bộ, nơi "đi trước về sau" đã trở thành mảnh đất thiêng liêng của các lực lượng từ xa hội tụ về, biến lời kêu gọi "hy sinh hết thảy vì mặt trận miền Nam" của Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh thành hành động thực tế. Đồng bào miền Nam đặc biệt tin tưởng, ưu ái những người con từ xa về để cùng chung sức kháng chiến. Chín năm kháng chiến đầy gian khổ, các chiến sĩ bộ đội Nam tiến, bộ đội Hải ngoại, bộ đội Cao Miên Việt kiều cứu quốc quân có mặt trên khắp chiến trường từ Cực Nam Trung Bộ đến mủi Cà Mau, từ đất liền ra hải đảo Phú Quốc thực sự hòa nhập, cùng lực lượng tại chỗ hợp thành tổ chức thống nhất lực lượng vũ trang cách mạng. Đặc biệt một bộ phận lực lượng Hải ngoại đã gia nhập đội quân tình nguyện quốc tế mang tên Sivôtha, hành quân lên đất Cam-pu-chia, cùng lực lượng cách mạng và nhân dân Cam-pu-chia chiến đấu chống kẻ thù chung. Bất kỳ ở đâu, những chiến sĩ từ xa về Nam Bộ đều tỏ rõ bản chất quân đội cách mạng, đi dân nhớ, ở dân thương.
Các lực lượng từ phía Bắc vào, từ nước ngoài về đã góp phần quan trọng làm tăng sức mạnh chiến đấu của quân dân Nam Bộ, Cực Nam Trung Bộ, là một bộ phận đã góp phần xây nên truyền thống vẻ vang và sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang miền Nam thời chống Pháp nói riêng, của Quân đội nhân dân Việt Nam nói chung. Có nhiều chiến sĩ bộ đội Nam tiến, bộ đội Hải ngoại đã trở thành cán bộ cao cấp của Quân đội nhân dân Việt Nam, có những người đã trở thành anh hùng lực lượng vũ trang, trong đó có liệt sĩ Ngô Thất Sơn vừa là một chiến sĩ bộ đội Hải ngoại, vừa là một chiến sĩ quân tình nguyện.
Quá trình hình thành, xây dựng và hoạt động của các lực lượng từ xa về tham gia chiến đấu ở chiến trường miền Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp để lại những bài học quý giá về truyền thống, về khoa học xây dựng và hoạt động của lực lượng vũ trang cách mạng. Tuy nhiên trước nay đề tài này chưa được nghiên cứu tổng kết một cách có hệ thống và đầy đủ. Thực hiện công việc này là một yêu cầu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn, góp phần làm rõ cuộc kháng chiến toàn dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, bổ sung và làm phong phú thêm các công trình lịch sử ba mươi năm chiến tranh giải phóng, lịch sử quân đội nhân dân... đồng thời góp phần giáo dục truyền thống, tổng kết kinh nghiệm lịch sử, phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay. |