Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

NGHIÊN CỨU VỀ CÁC LỰC LƯỢNG TỪ XA VỀ CHIẾN TRƯỜNG MIỀN NAM CHIẾN ĐẤU TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP, MỘT YÊU CẦU CÓ Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN

Đoạn văn nói về Nam Bộ kháng chiến bùng nổ ngày 23/9/1945, khi thực dân Pháp nổ súng tái xâm lược Việt Nam với sự hỗ trợ của quân Anh. Trước tình hình đó, quân và dân Nam Bộ đã anh dũng đứng lên chiến đấu, mở đầu cuộc kháng chiến lâu dài của dân tộc. Dù vũ khí thô sơ, nhân dân Sài Gòn – Chợ Lớn đã tổ chức nhiều khu tác chiến, bao vây và gây tổn thất lớn cho quân Pháp. Cuộc kháng chiến của Nam Bộ nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của cả nước và kiều bào ở nước ngoài. Phong trào Nam tiến diễn ra sôi nổ

Lai Châu10/03/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Cách đây năm mươi hai năm, quân dân Nam Bộ với tinh thần "Độc lập hay là chết" đã nổ phát súng mở đầu cuộc kháng chiến ở miền Nam cũng đồng thời bắt đầu cuộc chiến tranh giải phóng hào hùng của dân tộc ta chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ kéo dài ba mươi năm, thực hiện nhiệm vụ "đi trước" trong tình thế cực kỳ khó khăn của một đất nước vừa mới giành lại độc lập sau hơn tám mươi năm bị đô hộ.


Ngày 25 tháng 8 năm 1945 nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn và các tỉnh Nam Bộ dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh hoàn thành sứ mạng lịch sử cùng với nhân dân cả nước, khởi nghĩa cướp chính quyền từ tay phát xít Nhật, giành lại độc lập, tự do cho dân tộc.


Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt quốc dân đồng bào và Chính phủ cách mạng lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đọc bản Tuyên ngôn Độc lập.


Nhưng với ý đồ khôi phục lại quyền thống trị của chúng đối với Việt Nam và các nước Đông Dương, 0 giờ ngày 23 tháng 9 năm 1945 thực dân Pháp được sự giúp đỡ của quân Anh, gây hấn ở Sài Gòn, bắt đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam lần thứ hai. Chúng hy vọng nhanh chóng bình định Nam Bộ để làm bàn đạp tiến chiếm miền Trung và Bắc Việt Nam. Nhưng chúng đã lầm. Cuộc khởi nghĩa tháng Tám đã biến thành cuộc chiến tranh cách mạng của hàng triệu con người Nam Bộ sẵn sàng hy sinh cho độc lập tự do của Tổ quốc.


Sáng ngày 23 tháng 9, Ủy ban nhân dân Nam Bộ ra tuyên cáo quốc dân kêu gọi đồng bào kháng chiến.

Sau khi lời kêu gọi của Ủy ban nhân dân Nam Bộ phát ra, quân và dân Sài Gòn - Chợ Lớn đã nhanh chóng bước vào cuộc chiến đấu đầy tự tin và quyết liệt.


Buổi chiều 23 tháng 9 tiếng súng diệt địch nổ vang kháp nội thành. Mười sáu khu tác chiến nội thành được thành lập. Ở ngoại thành ba mặt trận Đông, Tây và Nam, thành thế bao vây quân thù. Tuy vũ khí ít và thô sơ, nhưng quân và dân ta thật hăng hái và cực kỳ gan dạ. Chỉ trong vòng một tuần lễ, 138 xí nghiệp và công sở lớn, 22 kho tàng, 4 chợ, 30 tàu lớn, 51 tàu nhỏ, 200 xe hơi và một số cầu bị đốt phá. Gần 300 tên giặc bị đền mạng.


Gặp phải sức đề kháng quyết liệt của nhân dân ta, sau 8 ngày gây hấn, thực dân Pháp chỉ chiếm đóng được các vị trí, công sở then yếu ở khu vực trung tâm thành phố. Thành phố không họp chợ, không buôn bán, không điện nước, lương thực thực phẩm bị hao cạn. Viện binh chưa tới kịp. Bọn Việt gian tay sai ra mặt hoạt động bị thanh niên ta truy bắt, nghiêm trị. Nhiều lần dựa vào quân Anh, quân Nhật, đánh lấn ra ngoài, cố phá vỡ vòng vây, nhưng đều thất bại, quân Pháp lâm vào tình trạng khốn đốn.


Trước tình hình đó, thực dân Pháp nhờ Gracey làm trung gian, xin thương lượng với Ủy ban nhân dân Nam Bộ để thực hiện ý đồ "dục hoãn cầu mưu", chờ đại quân của tướng Lecỉerc đến Sài Gòn rồi sẽ mở một đợt tấn công mới nhằm phá vỡ vòng vây và chiếm các tỉnh Nam Bộ. Ta biết như vậy, nhưng bên ta cũng cần một thời gian hòa hoãn để chuẩn bị đối phó với đợt tấn công mới của chúng.


Kết quả hơn một tháng vây hãm quân xâm lược trong nội thành Sài Gòn đã thể hiện khí phách anh hùng của nhân dân Nam Bộ và của cả nước, phá vỡ ý đồ nhanh chóng chiếm lại Nam Bộ của thực dân Pháp và tạo điều kiện cho các tỉnh Nam Bộ và Cực Nam Trung Bộ chuẩn bị kháng chiến.


Từ khi có viện binh cho đến ngày nổ súng tiến công Hà Nội, thực dân Pháp đã phải sử dụng toàn bộ lực lượng mà theo dự kiến ban đầu của chúng là để đánh chiếm cả Đông Dương, nhưng vẫn không lập được xứ "Nam Kỳ tự trị" mà trái lại chúng đã sa lầy vào một cuộc chiến tranh du kích.


Sau hơn một năm hai tháng hai mươi bảy ngày kháng chiến (23-9-1945 - 19-12-1946), quân dân Nam Bộ đã hoàn thành nhiệm vụ "đi trước” mà lịch sử đã giao phó.


Tháng 2 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt đồng bào cả nước tặng quân dân Nam Bộ danh hiệu vẻ vang Thành đồng Tổ quốc. Tuy nhiên, niềm vinh dự đó không chỉ dành riêng cho quân dân Nam Bộ mà là vinh dự chung của cả nước. Bởi vì ngay từ những ngày đầu cực kỳ khó khăn, quân dân Nam Bộ chiến đấu không đơn độc.


Ngày 8 tháng 9 năm 1945, hai ngày sau khi quân Pháp núp bóng quân Anh vào Sài Gòn, tại Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi:

"... Hỡi đồng bào!

Hiện một số quân Pháp đã lọt vào nước ta. Đồng bào hãy sẵn sàng đợi lệnh Chính phủ để chiến đấu"1 (Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, tập I, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1960, tr.19).

Nền độc lập dân tộc vừa giành được đang bị đe dọa, đồng bào ta trong, ngoài nước theo dõi từng bước chân quân xâm lược, đợi lệnh Chính phủ sẵn sàng lên đường ra mặt trận.


Sau đêm địch gây hấn ở Sài Gòn (23 tháng 9 năm 1945), Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh lại phát lời khẩn cấp gửi đồng bào cả nước:

"Phải trút toàn lực vào đó, hy sinh hết thảy vì mặt trận miền Nam"1 (Những sự kiện lịch sử Đảng, Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1979, tập II, tr.129).

Có thể nói sau lời kêu gọi, cuộc kháng chiến ở Nam Bộ cúng là cuộc chiến đấu của cả nước. Nhân dân các dân tộc từ biên giới phía Bắc đến mũi Cà Mau, đồng bào Việt kiều ở Lào, Cam-pu-chia, Thái Lan... hướng về Nam Bộ, tích cực và khẩn trương chuẩn bị cả người, vật chất để đưa ra tiền tuyến.

Ngay trong những ngày Sài Gòn "trong đánh ngoài vây", những cuộc mít tinh, biểu tình sôi sục diễn ra trên cả nước, biểu thị lòng phẫn nộ và quyết tâm chiến đấu bảo vệ độc lập. Khẩu hiệu "đả đảo thực dân Pháp xâm lược", "Nước Việt Nam của người Việt Nam", "Ủng hộ Nam Bộ kháng chiến"... giương cao khắp thành thị, nông thôn. Hầu hết các tỉnh Bắc Bộ và Trung Bộ lập "Phòng Nam Bộ" ghi tên những người tình nguyện vào những đoàn quân Nam tiến. Danh sách người tình nguyện có già, trẻ, gái, trai, công nhân, nông dân, kỹ sư, nhà văn, nhà giáo, viên chức, cựu binh sĩ... Một số nhà sư cũng cởi áo cà sa tình nguyện lên đường giết giặc. Ba ngày sau khi quân Pháp khởi hấn ở Sài Gòn đã có đơn vị Nam tiến đầu tiên rời ga Hàng Cỏ, Hà Nội.


Ngay từ đợt đầu, lực lượng Nam tiến đã có nhiều đơn vị, nhiều chi đội giải phóng quân từ Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, chiến khu Đông Triều, Bắc Ninh, Bắc Giang, Thái Bình, Nam Định, đội du kích Ba Tơ...


Chỉ một thời gian ngắn, các tỉnh Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ đều tổ chức mỗi tỉnh từ một đến hai chi đội1 (Chi đội tương đương tiểu đoàn đến trung đoàn, cũng có chi đội tương đương đại đội) Nam tiến.

Suốt dọc đường Nam tiến, nhân dân mang cờ, băng khẩu hiệu, bánh trái, cơm nước ra đón bộ đội. Nam tiến trở thành hình ảnh cả nước ra trận và nói lên ý chí "nước Việt Nam là một".

Nhiều đơn vị Nam tiến đã kịp vào Nam tham gia chiến đấu trên mặt trận Thị Nghè, Cầu Bông... và suốt dải đất từ Sài Gòn đến Cực Nam Trung Bộ, miền Tây Nam Bộ.

Sát cánh đồng bào trong nước, cùng ý chí "độc lập hay là chết", "nước Việt Nam là một", theo tiếng gọi cứu nước, đồng bào Việt kiều trên đất Lào, Cam-pu-chia hướng về Tổ quốc khẩn cấp chuẩn bị sẵn sàng về Nam Bộ kháng chiến. Lúc bấy giờ bên bờ sông Mê Công thuộc đất Thái Lan đã có bốn vạn Việt kiều sinh cơ lập nghiệp, thêm sáu vạn Việt kiều từ Lào sang cũng sẵn sàng về nước chiến đấu. Tinh thần yêu nước của đồng bào Việt kiều luôn được nuôi dưỡng trong suốt quá trình tha phương sinh cơ ỉập nghiệp, được nung nấu từ các phong trào yêu nước thế kỷ XIX, từ khi Đảng cộng sản Đông Dương chuẩn bị thành lập, đặc biệt qua các lớp huấn luyện, bồi dưỡng cán bộ, tuyên truyền giáo dục lòng yêu nước trong đồng bào Việt kiều, do chính đồng chí Nguyễn Ái Quốc (lúc bấy giờ lấy tên là Thầu Chín) thực hiện, lại được sự đồng tình chống Nhật của Đảng Thái tự do (Sérithay); chiến khu Việt kiều cùng lực lượng "Việt Nam Độc lập quân" đã ra đời từ những ngày Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương.


Việt kiều Thái Lan (một phần lớn cũng đồng thời là Việt kiều Cam-pu-chia sau này, vì lúc bấy giờ một phần đất Tây Bắc Cam-pu-chia thuộc Thái Lan) thực sự trở thành hậu phương trực tiếp của mặt trận Lào - Cam-pu-chia và là lực lượng tiếp tế về Nam Bộ. Nam Bộ kháng chiến bùng nổ, chiến khu Việt kiều trên đất Thái Lan phát triển mạnh, thu hút những người tình nguyện vào lực lượng vũ trang chuẩn bị về nước, xây dựng thành từng đơn vị Hải ngoại, có tổ chức Đảng lãnh đạo, được huấn luyện và trang bị mạnh, đồng phục, đặc biệt là được rèn luyện ý chí chiến đấu. Từ trước ngày toàn quốc kháng chiến đến tháng 6 năm 1947, các chi đội Hải ngoại mang những tên Độc lập số 1, Quang Trung, Trần Phú, Cửu Long 2, với quân số mỗi chi đội từ trên dưới 100 đến trên 400 người đã lần lượt hành quân về nước.


Bên cạnh lực lượng Hải ngoại còn một lực lượng con em Việt kiều mang tên "Cao Miên Việt kiều cứu quốc quân" ra đời theo tiếng gọi thiêng liêng "cứu quốc".

Hướng về Tổ quốc, trên dưới hai tháng trời, chiến sĩ Hải ngoại vượt hàng trăm, hàng ngàn cây số từ Thái Lan qua đất nước Cam-pu-chia đang bị địch chiếm đóng, băng qua núi cao, rừng rậm, sông suối, chịu đói, chịu khát, bệnh tật, đánh địch mở đường mà đi, lập chiến công ngay trên đường hành quân. Có những ngày ăn chuối xanh, ăn mít non thay cơm, có những chiến sĩ đã ngã xuống mà chưa được nhìn thấy Tổ quốc...


Nam Bộ, Cực Nam Trung Bộ, nơi "đi trước về sau" đã trở thành mảnh đất thiêng liêng của các lực lượng từ xa hội tụ về, biến lời kêu gọi "hy sinh hết thảy vì mặt trận miền Nam" của Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh thành hành động thực tế. Đồng bào miền Nam đặc biệt tin tưởng, ưu ái những người con từ xa về để cùng chung sức kháng chiến. Chín năm kháng chiến đầy gian khổ, các chiến sĩ bộ đội Nam tiến, bộ đội Hải ngoại, bộ đội Cao Miên Việt kiều cứu quốc quân có mặt trên khắp chiến trường từ Cực Nam Trung Bộ đến mủi Cà Mau, từ đất liền ra hải đảo Phú Quốc thực sự hòa nhập, cùng lực lượng tại chỗ hợp thành tổ chức thống nhất lực lượng vũ trang cách mạng. Đặc biệt một bộ phận lực lượng Hải ngoại đã gia nhập đội quân tình nguyện quốc tế mang tên Sivôtha, hành quân lên đất Cam-pu-chia, cùng lực lượng cách mạng và nhân dân Cam-pu-chia chiến đấu chống kẻ thù chung. Bất kỳ ở đâu, những chiến sĩ từ xa về Nam Bộ đều tỏ rõ bản chất quân đội cách mạng, đi dân nhớ, ở dân thương.


Các lực lượng từ phía Bắc vào, từ nước ngoài về đã góp phần quan trọng làm tăng sức mạnh chiến đấu của quân dân Nam Bộ, Cực Nam Trung Bộ, là một bộ phận đã góp phần xây nên truyền thống vẻ vang và sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang miền Nam thời chống Pháp nói riêng, của Quân đội nhân dân Việt Nam nói chung. Có nhiều chiến sĩ bộ đội Nam tiến, bộ đội Hải ngoại đã trở thành cán bộ cao cấp của Quân đội nhân dân Việt Nam, có những người đã trở thành anh hùng lực lượng vũ trang, trong đó có liệt sĩ Ngô Thất Sơn vừa là một chiến sĩ bộ đội Hải ngoại, vừa là một chiến sĩ quân tình nguyện.


Quá trình hình thành, xây dựng và hoạt động của các lực lượng từ xa về tham gia chiến đấu ở chiến trường miền Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp để lại những bài học quý giá về truyền thống, về khoa học xây dựng và hoạt động của lực lượng vũ trang cách mạng. Tuy nhiên trước nay đề tài này chưa được nghiên cứu tổng kết một cách có hệ thống và đầy đủ. Thực hiện công việc này là một yêu cầu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn, góp phần làm rõ cuộc kháng chiến toàn dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, bổ sung và làm phong phú thêm các công trình lịch sử ba mươi năm chiến tranh giải phóng, lịch sử quân đội nhân dân... đồng thời góp phần giáo dục truyền thống, tổng kết kinh nghiệm lịch sử, phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn