Bài viết

NGÔ ĐỘ (1920 - 1985)

Đà Nẵng02/12/2025Đoàn xã Tam Xuân (Đoàn xã Tam Xuân)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đồng chí Ngô Độ, tên thật là Ngô Nghiên, bí danh là Trinh. Sinh ngày 05 tháng 5 năm 1920 tại làng Vĩnh Đại, tổng Đức Hòa, phủ Tam Kỳ, nay là thôn Vĩnh Đại, xã Tam Hiệp, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam. Cha là Ngô Hữu Mẫn, một nông dân hiền lành, chất phát, khá thông thạo chữ Nho và chữ Nôm, mẹ là Nguyễn Thị Đi, hội viên phụ nữ cứu quốc, từng nuôi dấu, giúp đỡ các đồng chí Võ Toàn, Nguyễn Sắc Kim hạt động.

Sinh ra trong gia đình đông con, từ nhỏ Ngô Độ vừa phải làm việc giúp đỡ cha mẹ, vừa theo thầy Hoành, thầy Chí học chữ Nho. Học chữ Nho khó, Ngô Độ lại theo thầy Nguyễn Vích học chữ quốc ngữ, thầy Vích là người từng tham gia phong trào Duy Tân. Hàng ngày, ngoài học chữ Ngô Độ được thầy dạy bảo lòng yêu nước, thương dân. Được một thời gian, việc học lại bỏ dở vì điều kiện kinh tế khó khăn. Lúc này Ngô Độ phải chứng kiến cảnh anh trai và người cha đã già yếu nhưng phải khòm lưng khiêng tên Phó tổng Sùng từ Vĩnh Đại sang Diêm Trường. Trong lòng người thanh niên trẻ tuổi trào dâng lòng căm thù giặc sâu sắc.

Vào những năm 1936 - 1937, Ngô Độ được thầy Nguyễn Kỵ (Thầy Kế), làm nghề bốc thuốc, đảng viên Đảng cộng sản Đông Dương, tuyên truyền về chủ nghĩa cộng sản, giới thiệu tham gia tổ chức thanh niên cứu quốc tại địa phương.

Sau vụ khủng bố năm 1942, phong trào cách mạng Quảng Nam gặp nhiều khó khăn. Đồng chí Võ Toàn (Võ Chí Công), Bí thư Tỉnh ủy và đồng chí Nguyễn Sắc Kim, Tỉnh ủy viên bị địch truy nã gắt gao, lại mất liên lạc với cấp trên, hai đồng chí phải tạm chuyển vùng hoạt động, dựa vào cơ sở phía Nam Tam Kỳ để chỉ đạo phong trào. Trong suốt thời gian này, đồng chí Ngô Độ và gia đình được giao nhiệm vụ nuôi dấu, bảo vệ. Đầu năm 1943, Ngô Độ được giao nhiệm vụ làm giao liên, vận chuyển tài liệu bí mật.

Nhiệm vụ nào cũng thành công, vì vậy ngày 8 tháng 3 năm 1943, đồng chí Ngô Độ được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Sau khi vào Đảng, đồng chí được giao ngay nhiệm vụ bắt mối liên lạc với số đảng viên còn lại sau vụ bể vỡ năm 1942, tuyên truyền, giác ngộ và phát triển đảng viên mới. Trên cơ sở đó tháng 4 năm 1943, đồng chí Nguyễn Hàng, Tỉnh ủy viên đứng điểm vùng Thọ Khương tuyên bố thành lập lại chi bộ ghép Vân Trai - Vĩnh Đại, lấy bí danh là “Thống”, có 3 đảng viên: Ngô Độ, Ngô Công, Lương Hạo, do đồng chí Lương Hạo làm Bí thư.

Vài tháng sau, Lương Hạo từ trần, Ngô Công thấy địch khủng bố, giao động bỏ sinh hoạt, chi bộ chỉ còn mình Ngô Độ. Với tinh thần cách mạng, ý chí của người cộng sản, Ngô Độ đã chủ động, linh hoạt trong hoạt động bí mật, vừa tập trung xây dựng cơ sở, vừa tổ chức đưa đón, bảo vệ các cuộc họp của Tỉnh ủy, Phủ ủy, cơ sở in báo “Độc lập” ngay tại nhà mình.

Tháng 10 năm 1943, bọn mật thám phát hiện gia đình Ngô Độ là địa điểm nuôi dấu cán bộ cốt cán của Tỉnh ủy. Chúng đưa một tiểu đội lính khố xanh đến bao vây, bắt đồng chí Nguyễn Sắc Kim, Phó Bí thư Tỉnh ủy. Nhưng nhờ cảnh giác, khi bọn chúng vừa đẩy cửa vào nhà đồng chí Nguyễn Sắc Kim đã tẩu thoát. Không bắt được Nguyễn Sắc Kim, chúng quay lại bắt Ngô Độ và người em trai Ngô Thành đưa đi giam tại nhà lao Tam Kỳ. Trong tù, dù bị tra tấn dã man, nhưng vẫn một lòng theo Đảng, chúng kết án hai anh em mỗi người một năm tù giam. Trong tù, đồng chí Ngô Độ cùng với anh em tổ chức nhiều cuộc đấu tranh buộc bọn cai ngục phải nhượng bộ một số yêu sách.

Cuối năm 1944, đồng chí ra tù, về lại địa phương tham gia ngay vào Ban vận động khởi nghĩa xã Tam Hiệp, làm Tổ trưởng Ban vận động các làng Vĩnh Đại, Phái Nhơn và Sung Mỹ; kiêm phụ trách công tác Giao thông - Tuyên truyền xã. Đồng chí đi khắp nơi tuyên truyền, vận động quần chúng tham gia các hội đoàn thể cứu quốc; tập hợp thanh niên thành lập đội tự vệ, xây dựng hàng chục lò rèn, ngày đêm đỏ lửa rèn đao, mã tấu trang bị cho lực lượng tự vệ và đội du kích Vũ hùng của huyện. Khi có lệnh tổng khởi nghĩa, đồng chí lãnh đạo nhân dân Vĩnh Đại xuống đường cướp chính quyền, bắt bọn lý hương, cường hào về giam tại trường học Vân Trai, đồng thời huy động lực lượng kéo về giành chính quyền tại phủ lỵ Tam Kỳ.

Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, đồng chí được bầu làm Phó Bí thư chi bộ Hoàng Văn Thụ, phụ trách công tác đặc vụ (an ninh), rồi Chủ nhiệm Việt Minh xã Tam Hòa (các xã Phái Nhơn, Sung Mỹ, Vĩnh Đại được sát nhập lại năm 1946). Từ tháng 6 năm 1949 đến tháng 02 năm 1954, là Xã ủy xã Tam Hiệp, Bí thư Nông hội xã và Ủy viên Hội đồng nhân dân xã Tam Hiệp. Từ tháng 3 năm 1954 đến 7 năm 1954, làm Phó Bí thư Xã ủy, Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến - Hành chính xã Tam Hiệp. Dù ở cương vị nào, đồng chí đều tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện chủ trương của Đảng, tăng gia sản xuất, chống giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm, xây dựng củng cố tổ chức Đảng, chính quyền, mặt trận, các đoàn thể, phục vụ các yêu cầu của tiền tuyến, đưa xã Tam Hiệp là xã được đánh giá có phong trào mạnh của huyện Tam Kỳ.

Sau ngày ký hiệp định Giơ-ne-vơ, đồng chí được phân công ở lại miền Nam, Huyện ủy chỉ định phụ trách các xã phía Nam của huyện. Trong thời gian này, đồng chí tích cực tuyên truyền, giải thích cho nhân dân hiểu về chủ trương của Đảng; tổ chức tuyển đưa hàng trăm cán bộ tập kết ra Bắc; vận động quần chúng đấu tranh đòi Mỹ - Diệm thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ.

Thời gian này tình hình cách mạng Tam Kỳ gặp nhiều khó khăn, địch mở rộng địa bàn đánh phá, cơ quan Huyện ủy phải thường xuyên di chuyển để đảm bảo lãnh đạo phong trào địa phương; một số cán bộ lãnh đạo của Huyện ủy bị truy bắt, tra tấn và thủ tiêu. Song với bản lĩnh kiên cường, đồng chí đã vững vàng trụ bám, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ. Nhớ lại những ngày tháng này, đồng chí viết: “Có lúc một đến hai tuần lễ chỉ sống với lá cây, rau rừng và nước suối cầm hơi, có lần bị bệnh thương hàn 5 - 6 ngày chỉ chui vào bãi lách tại Hố Cối (Tam Mỹ) nằm cho đến ngày tỉnh dần, rồi lại lần đi công tác, tuy vậy người vẫn vui vẻ, không một tiếng than vãn”.

Những ngày hoạt động cách mạng gian khổ ấy, đồng chí đã biết dựa vào dân, được nhân dân che chở, đùm bọc. Vì thế, dù địch có treo thưởng cao cho những kẻ nào bắt hoặc thông tin về đồng chí Ngô Độ nhưng đành chịu. Đồng chí xây dựng được hàng chục cơ sở quần chúng trung kiên, làm tốt nhiệm vụ bảo vệ, nuôi dấu cán bộ; một số xã thành lập lại được chi bộ bất hợp pháp, đảng viên đơn tuyến ngày càng nhiều. Những nơi chưa củng cố lại được chi bộ, đồng chí chỉ đạo xây dựng cơ sở quần chúng.

Tháng 7 năm 1959, đồng chí cùng với 11 cán bộ Huyện ủy được triệu tập tiếp thu Nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại xã Zút, huyện Trà My do Huyện ủy Tam Kỳ tổ chức và tại đây đồng chí được bổ sung vào Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Tam Kỳ. Sau kết thúc đợt học, thực hiện chủ trương của cấp trên, đồng chí được giao nhiệm vụ khẩn trương về địa phương rút thanh niên lên căn cứ huấn luyện chuẩn bị cho việc xây dựng lực lượng. Chỉ trong thời gian ngắn, 15 thanh niên là con em cơ sở của xã Kỳ Khương (Tam Hiệp) được đưa lên căn cứ. Đây là đợt thanh niên đầu tiên của xã được rút lên xây dựng lực lượng vũ trang theo tinh thần Nghị quyết 15.

Tháng 6 năm 1960, đồng chí được phân công làm Phó Bí thư Huyện ủy Tam Kỳ, phụ trách chung, đồng chí tiếp tục đến các xã Kỳ Xuân (Tam Giang), Kỳ Khương (Tam Hiệp), Kỳ Sanh (Tam Mỹ), Kỳ Hòa (Tam Hải), Kỳ Liên (Tam Nghĩa)… vận động rút hơn 100 thanh niên lên căn cứ, bổ sung lực lượng chủ lực của Khu, tỉnh và huyện. Sau đợt huấn luyện, huyện xin rút lại một số thanh niên nói trên về lại Tam Kỳ để chuẩn bị hình thành đội công tác các xã cánh Nam và đơn vị lực lượng vũ trang của huyện. Đội vũ trang tuyên truyền của huyện phối hợp với một trung đội lực lượng vũ trang của Quân khu 5, thường xuyên vũ trang tuyên truyền diệt ác phá kèm, xây dựng và phát triển cơ sở trong quần chúng và tổ chức quần chúng đấu tranh chống địch khủng bố, đàn áp để bảo vệ và phát triển phong trào cách mạng. Chính vì thế, mà từ giữa năm 1961 các đội công tác Kỳ Sanh, Kỳ Khương, Kỳ Xuân, Kỳ Hòa, Kỳ Liên, Kỳ Trà lần lượt ra đời và hoạt động mạnh mẽ, làm trụ cột cho phong trào đấu tranh của nhân dân địa phương.

Thực hiện chủ trương diệt ác, phá kèm, tạo thanh thế, tạo phong trào cách mạng cho các xã phía Nam, để mở đầu cho phong trào diệt ác, đồng chí trực tiếp chỉ huy một tổ vũ trang, mai phục diệt tên Phan Trân - Quốc dân đảng, Đại diện hội đồng hương chính xã Kỳ Khương, sau đó tiếp tục chỉ huy diệt tên Phan Toại - Quốc dân đảng, Đại diện hội đồng hương chính xã Kỳ Sanh. Đây là những tên ác ôn khét tiếng, có nhiều nợ máu với nhân dân. Việc trừng trị các tên ác ôn đã làm cho bọn địch thật sự hoang mang, dao động, những tên ác ôn khác còn lại hạn chế hoạt động, bớt sự hung hăng; nhân dân phấn khởi tin tưởng, tạo thế và lực cho việc củng cố, xây dựng thêm nhiều cơ sở cách mạng ở các xã Nam Tam Kỳ.

Tháng 9 năm 1960, Liên khu ủy 5 thành lập Mặt trận 32A, gồm các huyện Tam Kỳ, Tiên Phước (Quảng Nam), Bình Sơn, Sơn Tịnh (Quảng Ngãi), nhiệm vụ của Mặt trận là mở rộng căn cứ bàn đạp, tiến xuống vùng đồng bằng, thiết lập đường dây liên lạc và mở các cửa khẩu. Khu ủy chọn huyện Bình Sơn và Tam Kỳ làm điểm. Đây cũng là điều kiện thuận lợi để huyện Tam Kỳ đẩy mạnh công tác diệt ác, phá kèm, mở ra giành quyền làm chủ nông thôn, đồng bằng, phát triển cơ sở, thúc đẩy phong trào cách mạng đi lên. Thực hiện chủ trương trên, tháng 10 năm 1960, đồng chí Ngô Độ đã lãnh đạo đội vũ trang tuyên truyền huyện cùng với Trung đội của lực lượng vũ trang Quân Khu 5, tổ chức đợt hoạt động xuống các xã vùng giáp ranh miền núi và các xã vùng sâu phía Nam. Trong đó, trận đột nhập vào trụ sở hội đồng Kỳ Xuân (Tam Giang) đập tan mân hội đồng, tổ chức rãi truyền đơn, treo cờ đỏ sao vàng dọc tuyến quốc lộ 1A, từ chợ Trạm đến ga An Tân. Những hoạt động táo bạo, bất ngờ và những thắng lợi trên đã làm tăng thêm thanh thế cách mạng, quần chúng nhân dân vô cùng phấn khởi, tin tưởng sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện.

Phát huy thắng lợi, đầu năm 1961, đồng chí Ngô Độ được Tỉnh ủy giao nhiệm vụ nghiên cứu, chọn xã đồng bằng mở ra, tiến công giải phóng giành quyền làm chủ. Do tầm quan trọng của nhiệm vụ, đồng chí đã tập trung nghiên cứu, nắm chắt tình hình bộ máy ngụy tề, lực lượng điệp báo. Cuối cùng xin ý kiến Tỉnh ủy lấy Tứ Mỹ, Xuân Bình, Phú Thọ làm điểm vũ trang tuyên truyền phát động quần chúng nhân dân nổi dậy giải phóng giành quyền làm chủ.Trong đó, việc chọn Tứ Mỹ làm điểm giải phóng được đồng chí phân tích khá chặt chẽ, tuy là vùng nông thôn miền núi nhưng tài nguyên phong phú, lúa gạo, khoai sắn ở đây dồi dào, với 7 cách đồng và hơn 500 mẫu ruộng, sản xuất 2 vụ, không những cung cấp đủ cho trên 180 khẩu dân ở đây mà còn nuôi thêm hàng trăm người khác; vả lại nơi đây địa hình núi non hiểm trở, duy nhất chỉ có một con đường từ Đồng Cố (thôn 9, Tam Mỹ) lên Xuân Bình, Phú Thọ xã Kỳ Yên.

Trong công tác chuẩn bị giải phóng Tứ Mỹ, công tác nắm địch, đồng chí tính toán và lên phương án tác chiến khá tỉ mỹ. Ngoài việc bố trí lực lượng nắm từng tên tề, điệp, mức độ ác ôn và cách thức hoạt động của chúng, đồng chí còn phân công từng cán bộ, chiến sĩ phụ trách từng nhiệm vụ khi tiến hành giải phóng. Ngày 31 tháng 8 năm 1961, chiến dịch giải phóng Tứ Mỹ được mở ra và giành quyền làm chủ hoàn toàn. Tứ Mỹ giải phóng tạo bước đột phá cho cả đồng bằng Quân khu V, mở ra một cao trào nổi dậy "đồng khởi" giải phóng nông thôn, đồng bằng ở Quảng Nam và Quân khu 5 trong những năm sau.

Từ kinh nhiệm giải phóng Tứ Mỹ, đồng chí tiếp tục chỉ đạo giải phóng các thôn 9, 8, 7, 6 xã Kỳ Sanh; thôn 8, 9 xã Kỳ Trà; Khương Nhơn Khương Thọ xã Kỳ Khương, toàn bộ xã Kỳ Thạnh tạo thành vùng giải phóng liên hoàn từ Kỳ Yên - Kỳ Sanh - Kỳ Khương - Kỳ Thạnh - Kỳ Trà. Quân và dân Tam Kỳ đã thực hiện Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng tấn công và nổi dậy giải phóng một vùng nông thôn đồng bằng sớm nhất ở Quảng Nam. Tháng 12 năm 1962, đồng chí Ngô Độ được cử làm Bí thư Huyện ủy Tam Kỳ và được bầu vào Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Nam và cũng là lúc địch sử dụng lực lượng quân chính quy và địa phương quân phản kích liên tục đóng đồn bốt lấn chiếm lại vùng giải phóng. Cùng với Huyện ủy, đồng chí Ngô Độ chỉ đạo phong trào du kích chiến tranh, lực lượng vũ trang của huyện liên tục bám đánh địch, tiêu diệt một bộ phận sinh lực của chúng và tổ chức phong trào quần chúng đấu tranh chống địch đàn áp, khủng bố, lùng sục cướp phá tài sản của nhân dân để bảo vệ và giữ vững vùng giải phóng. Đặc biệt, đồng chí chỉ đạo, tổ chức các đội công tác, phối hợp với du kích luồng lại phía sau lưng địch diệt nhiều tên tề điệp ngóc đầu dậy, những tên ác ôn theo chân lính ngụy về đàn áp, kèm kẹp nhân dân. Có những đội công tác thọc xuống vùng sâu phát động quần chúng xây dựng cơ sở diệt ác, phá kèm giành quyền làm chủ ngay trong lòng địch, tạo ra vùng căn cứ lõm của cách mạng như Kỳ Xuân, Kỳ Hòa. Tuy có những khó khăn nhất định nhưng ta vẫn giữ được vùng giải phóng, tạo thêm được vùng ta làm chủ và huy động được nguồn nhân tài, vật lực phục vụ cho kháng chiến.

Với cương vị là Bí thư Huyện ủy, đồng chí tiếp tục chỉ đạo và tổ chức lực lượng tấn công và nổi dậy mở rộng vùng giải phóng ra hướng Tây Bắc của huyện. Cuối năm 1962, đã giải phóng được nhiều thôn ở xã Kỳ Long, Kỳ Quế, Kỳ Thịnh, Kỳ Phước và Kỳ An. Cuối tháng 12 năm 1962 đến năm 1963, các đội công tác các xã cánh Bắc lần lượt ra đời và phối hợp với lực lượng vũ trang mở rộng vùng giải phóng. Đến đầu năm 1963, vùng giải phóng của ta được mở rộng tạo thế liên hoàn từ Kỳ Quế, Kỳ Long, Kỳ Thịnh, Kỳ Phước, Kỳ An và Kỳ Bình giáp với vùng giải phóng Phước Tiên, Phước Tân, Sơn - Cẩm Hà của huyện Tiên Phước và Bình Quế, Bình Phú của huyện Thăng Bình.

Cùng với việc mở rộng vùng giải phóng và căn cứ lõm các Ban Quân sự, đấu tranh chính trị, binh vận, an ninh, kinh tế của huyện cũng được thành lập.

Tháng 4 năm 1963, Tỉnh ủy Quảng Nam quyết định chia tách huyện Tam Kỳ thành huyện Nam Tam Kỳ và Bắc Tam Kỳ. Đồng chí Ngô Độ được bổ sung vào Ban chấp hành Tỉnh ủy, chỉ định làm Bí thư Huyện ủy Nam Tam Kỳ. Ngay sau khi tiếp nhận nhiệm vụ mới, đồng chí tập trung xây dựng, củng cố Đảng bộ, thành lập thêm một số chi bộ mới, nâng tổng số chi bộ lên 17, với 162 đảng viên. Để thuận lợi cho công tác lãnh đạo, đồng chí chỉ đạo mỗi xã thành lập 2 chi bộ - một chi bộ Đội công tác, một chi bộ hợp pháp (gồm những đảng viên sống hợp pháp trong vùng địch). Đồng chí, trực tiếp chỉ đạo các Đội công tác, đẩy mạnh vũ trang diệt ác, phá kèm, chống càn quét, gôm dân, mở rộng vùng giải phóng. Vận động quần chúng xây dựng cơ sở cách mạng, tổ chức những cuộc đấu tranh chính trị, binh địch vận. Trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, đồng chí rất quan tâm đến việc xây dựng lực lượng. Chỉ đạo thành lập Đội vũ trang huyện, ở các xã giải phóng có một Trung đội du kích, các xã trong vùng địch có đội công tác, xây dựng các đoàn thể chính trị hoạt động hợp pháp, đẩy mạnh đấu tranh chính trị trong vùng địch và chủ trương xây dựng vùng giải phóng vững mạnh.

Ngoài công tác trên, đồng chí luôn luôn chỉ đạo các đội công tác, vận động rút thanh niên thoát ly tham gia kháng chiến. Đến tháng 10 năm 1963, có hơn 600 thanh niên thoát ly được bổ sung vào lực lượng của huyện, tỉnh và khu. Đại đội V14 của huyện cũng được tăng cường về quân số, trở thành đơn vị cơ động của huyện, đủ sức đánh tập trung diệt cỡ một đến hai trung đội địch ngoài công sự. Xây dựng lực lượng an ninh huyện đáp ứng yêu cầu chống thám báo, gián điệp, chiêu hồi, chiêu hàng, bảo vệ nội bộ, bảo vệ hành lang giao thông và phối hợp với các đơn vị chủ lực diệt ác, phá kèm.

Là người đứng đầu - Bí thư Huyện ủy, đồng chí Ngô Độ đã lãnh đạo phong trào cách mạng Nam Tam Kỳ không ngừng phát triển. Các chi bộ đã phát huy vai trò lãnh đạo nhân dân đấu tranh chống địch dồn dân lập ấp, địch không xây thêm được “ấp chiến lược” nào, mà phải bỏ dỡ giữa chừng nhiều " ấp chiến lược" khác. Thế và lực của địch ngày càng co cụm, bọn sĩ quan binh lính, tề ngụy ngày một hoang mang dao động, một số binh lính nghĩa quân bỏ ngũ mang súng về với cách mạng. Tạo ra một phong trào giành quyền làm chủ và giải phóng trên khắp địa bàn huyện; vì thế từ sau năm 1964 đầu năm 1965 hầu hết các xã trong huyện Nam Tam Kỳ được giải phóng, góp phần đánh bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ - ngụy trên chiến trường miền Nam.

Tháng 12 năm 1964, đồng chí trúng cử vào Ban chấp hành Tỉnh ủy, Tỉnh ủy điều về làm Phó trưởng Ban Dân vận, rồi Bí thư Nông hội tỉnh Quảng Nam, Ủy viên Ban Chấp hành Nông hội Khu 5, Ủy viên Dân chính Đảng Khu 5. Từ tháng 2 năm 1969, Phó trưởng Ban sản xuất tỉnh Quảng Nam. Trên cương vị mới, trình độ có hạn nhưng vừa làm vừa học, đồng chí đã tích cực chỉ đạo xây dựng phát triển cơ sở hội nông dân trong vùng giải phóng, xây dựng hội trong vùng địch; tổ chức nhiều cuộc đấu tranh chính trị trực diện với quân địch, góp phần thực hiện thắng lợi phương châm “Hai chân, ba mũi giáp công” trên chiến trường Quảng Nam và miềm Nam.

Tháng 6 năm 1969, do cơn bệnh sốt rét kéo dài, sức khỏe giảm sút, đồng chí được cấp trên cho ra miềm Bắc chữa bệnh, sau đó điều dưỡng tại K5 - Bệnh viện Việt-Xô và nghĩ dưỡng tại nước Cộng hòa Dân chủ Đức. Sau một thời gian chữa bệnh, đầu năm 1972 đồng chí về nước công tác tại Cục đón tiếp cán bộ “B” và nghỉ dưỡng tại trại điều dưỡng K25. Đầu năm 1973, đồng chí được bầu vào Ban chấp hành Đảng bộ K35 - Vĩnh Phú và giữ chức vụ Bí thư Đảng ủy, là một cơ quan với nhiệm vụ giải quyết chế độ sinh hoạt phí cho cán bộ “B”- cán bộ miền Nam ra Bắc, đồng chí đã xây dựng K35 thành đơn vị xuất sắc được Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng khen thưởng.

Sau ngày đất nước thống nhất, năm 1976 đồng chí về lại Quảng Nam, công tác tại Ban tiếp đón cán bộ tỉnh và đến tháng 02 năm 1977 đồng chí nghỉ hưu. Năm 1978, gần 25 năm hoạt động cách mạng nay được trở về quê hương Tam Hiệp. Tưởng rằng nhiệm vụ Đảng giao đã hoàn thành, thời gian còn lại để chăm lo cho sức khỏe tuổi già, nhưng với yêu cầu của quê hương, cần một cán bộ kinh nghiệm để giải quyết những vấn đề cấp bách của địa phương sau ngày giải phóng. Huyện ủy Tam Kỳ và xã Tam Hiệp đề nghị đồng chí ra làm Bí thư Đảng ủy, làm Bí thư được hơn một năm, đồng chí giao lại nhiệm vụ cho lớp trẻ, sau đó tham gia Ban Quản trị hợp tác xã nông nghiệp, tích cực trong các phong trào của địa phương. Nhất là lãnh đạo thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng hợp tác xã nông nghiệp, cải tạo quan hệ sản xuất ở nông thôn. Do tuổi cao, sức yếu, đồng chí Ngô Độ từ trần ngày 22 tháng 6 năm 1985, tại quê nhà Vĩnh Đại, xã Tam Hiệp.

Tham gia cách mạng rất sớm, đồng chí Ngô Độ đã đem hết tài năng, trí tuệ, không ngại hy sinh, gian khổ, giữ vững bản lĩnh của người Cộng sản, cống hiến trọn đời cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.Đồng chí hoạt động tại nơi nào, nơi đó phong trào phát triển mạnh; là chiến sĩ cộng sản kiên trung, đầy cá tính, có tinh thần lạc quan cách mạng, kiên định, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng.

Với những công lao to lớn đóng góp cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đồng chí được Đảng, Nhà nước trao tặng Huân chương Độc lập hạng Nhì; Huân chương Giải phóng hạng Nhất, Nhì; Huân chương Kháng chiến hạng Nhất; Huân chương Kháng chiến hạng Ba; Huy chương vì giai cấp nông dân Việt Nam.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn