Ngô Quyền và chiến thắng Bạch Đằng năm 938: Mở ra kỷ nguyên độc lập cho dân tộc
Tìm hiểu về cuộc đời, sự nghiệp và trận chiến Bạch Đằng lịch sử năm 938 của Đức vương Ngô Quyền – mốc thế kỷ chấm dứt hơn 1.000 năm Bắc thuộc, mở ra thời kỳ độc lập tự chủ lâu dài cho Việt Nam.

Ngô Quyền (chữ Hán: 吳權; 17 tháng 4 năm 898 – 14 tháng 2 năm 944), khi xưng vương gọi là Tiền Ngô Vương (Chữ Hán:前吳王) là vị vua đầu tiên của nhà Ngô trong lịch sử Việt Nam. Năm 938, ông là người lãnh đạo nhân dân đánh bại quân Nam Hán trong trận Bạch Đằng, chính thức kết thúc gần một ngàn năm Bắc thuộc, mở ra một thời kì độc lập lâu dài của Việt Nam. Sau chiến thắng này, ông lên ngôi vua, lập ra nhà Ngô, trị vì từ năm 939 đến năm 944.
Ngô Quyền nằm trong danh sách mười bốn anh hùng dân tộc Việt Nam. Phan Bội Châu xem ông là vị Tổ Trung hưng của Việt Nam.
Ngô Quyền sinh ngày 12 tháng 3 năm Đinh Tỵ (17 tháng 4 năm 898) trong một dòng họ hào trưởng có thế lực. Cha là Ngô Mân làm chức châu mục Đường Lâm. Ngô Quyền được sử sách mô tả là bậc anh hùng tuấn kiệt, "có trí dũng".
Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư:
“ Khi Ngô Quyền vừa mới sinh có ánh sáng lạ đầy nhà, dung mạo khác thường, có 3 nốt ruồi ở lưng, thầy tướng cho là lạ, bảo có thể làm chủ một phương, nên mới đặt tên là Quyền. Ngô Quyền lớn lên, khôi ngô, mắt sáng như chớp, dáng đi thong thả như hổ, có trí dũng, sức có thể nâng được vạc bằng đồng. ”
Thời bấy giờ, đất nước ta nằm dưới sự cai trị tự chủ của Họ Khúc rồi đến Tiết độ sứ Dương Đình Nghệ. Mến phục tài năng, đức độ và khí chất anh hùng của Ngô Quyền, Dương Đình Nghệ đã nhận ông làm con nuôi, gả con gái cho và giao cho ông quản lý vùng đất Ái Châu (Thanh Hóa ngày nay). Dưới sự cai trị của Ngô Quyền, vùng Ái Châu trở nên trật tự, yên bình, nhân dân ấm no và lực lượng quân sự ngày càng lớn mạnh.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Năm 937, kiêu tướng Kiều Công Hãn vì lòng tham đã làm phản, ám hại Dương Đình Nghệ để cướp chức Tiết độ sứ. Nghe tin cha vợ bị hại, Ngô Quyền vô cùng căm phẫn, lập tức chiêu mộ binh mã từ Ái Châu tiến quân ra Bắc để diệt trừ kẻ phản quốc. Hoảng sợ trước uy thế của Ngô Quyền, Kiều Công Hãn đã cầu cứu nhà Nam Hán (Trung Quốc). Vua Nam Hán là Lưu Cung nhân cơ hội này phong cho con trai là Lưu Hoằng Tháo làm Bình Hải quân Tiết độ sứ, dẫn đại quân thủy tiến sang xâm lược nước ta.
Trước tình thế nguy cấp, Ngô Quyền thể hiện bản lĩnh của một nhà quân sự thiên tài. Ông chủ động tiến quân ra Bắc diệt xong Kiều Công Hãn, đập tan mưu đồ nội ứng của địch. Nhận định quân Nam Hán cậy thuyền to sẽ đi theo đường biển vào cửa sông Bạch Đằng, Ngô Quyền chọn ngay lòng sông Bạch Đằng làm trận địa quyết chiến.
Ông phát minh ra chiến thuật cắm cọc gỗ vót nhọn bịt sắt xuống lòng sông và tận dụng quy luật thủy triều: Khi thủy triều dâng cao, Ngô Quyền cử thuyền nhẹ ra khiêu chiến rồi giả vờ thua chạy để dụ toàn bộ đại quân thuyền chiến của Lưu Hoằng Tháo đuổi sâu vào bẫy. Khi thủy triều bắt đầu rút nhanh, Ngô Quyền phát lệnh tổng tấn công. Quân ta từ các hướng dốc toàn lực quay lại đánh vỗ mặt dữ dội. Quân Nam Hán hoảng loạn tháo chạy ra biển nhưng đụng phải bãi cọc nhọn đã nhô lên khỏi mặt nước. Hàng loạt thuyền chiến bị đâm thủng, chìm nghỉm giữa dòng sông xiết. Chủ tướng Lưu Hoằng Tháo tử trận tại chỗ, quân Nam Hán đắm thuyền chết nhiều vô số kể. Vua Nam Hán nghe tin con chết đã ôm mặt khóc than và thu gom tàn quân rút về nước.
Năm 939, sau chiến thắng lừng lẫy, Ngô Quyền chính thức lên ngôi Vương (Tiền Ngô Vương), bỏ chức Tiết độ sứ phương Bắc, chọn Cổ Loa làm kinh đô và thiết lập bộ máy chính quyền độc lập tự chủ. Ông trị vì đất nước từ năm 939 cho đến khi qua đời vào năm 944.
Ngô Quyền được vinh danh là một trong 14 vị anh hùng dân tộc tiêu biểu của Việt Nam. Nhà cách mạng Phan Bội Châu từng tôn xưng ông là "vị Tổ Trung hưng" của dân tộc. Trận Bạch Đằng năm 938 do ông lãnh đạo mang ý nghĩa bước ngoặt vĩ đại: chấm dứt vĩnh viễn hơn 1.000 năm Bắc thuộc, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do trường tồn cho đất nước.



