Ngô Thị Ký
Mẹ Ngô Thị Ký sinh năm 1904 tại xã An Phú, quận Thủ Đức, tỉnh Gia Định (nay là thành phố Hồ Chí Minh) trong một gia đình nông dân. Mẹ lập gia đình, sinh hạ đông con, nhưng chỉ có năm người sống đến tuổi trưởng thành (ba trai, hai gái). Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, chồng mẹ và con trai lớn là Hai Thông tham gia phong trào Thanh niên Tiền phong xã. Thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta một lần nữa, ông và Hai Thông công tác tại địa phương. Địch chiếm Thủ Đức cuối tháng 10/1945, chúng đóng nhiều tua, bót trong quận, tiến hành càn bố hòng gom dân, bình định thực hiện “tái chiếm Nam Kỳ trong vài ba tháng”. Nhưng phong trào chiến tranh du kích diễn ra lúc sôi nổi, lúc tạm lắng. Mẹ Ngô Thị Ký lo tần tảo làm ăn nuôi chồng con và đóng góp ủng hộ kháng chiến, cũng lo chạy giặc càn bố xóm làng. Năm 1952, ta có chủ trương giảm chính, ông và anh Hai Thông trở về sinh sống cùng gia đình. Sau Hiệp định Genève tháng 7/1954, đế quốc Mỹ hất cẳng Pháp, nhảy vào miền Nam âm mưu biến nơi đây thành thuộc địa kiểu mới của chúng. Chúng thực hiện chiến lược chiến tranh một phía, dùng bạo lực đàn áp điên cuồng cách mạng miền Nam. Nhiều cán bộ, cơ sở yêu nước ở Thủ Đức bị bắt giam, bị bắn giết. Một người cậu ruột anh Hai Thông đưa mấy anh em vào làm ở hãng bia Larue (bia con cọp) để tránh né. Ngay từ năm 1955, một số cán bộ kháng chiến cũ (mà địch gọi là Việt Cộng nằm vùng) và thanh niên mật An Phú đã trừng trị 3 tên công an ác ôn về khủng bố đồng bào. Nhân dân sôi nổi đấu tranh chống địch cướp đất làm xa lộ Sài Gòn - Biên Hòa, khiến chúng phải bồi thường thiệt hại. Được cán bộ giáo dục, anh Tám Nhưng (Nguyễn Văn Viện sinh năm 1937) đi thoát ly hoạt động mật từ năm 1957, lúc địch mở các chiến dịch “tố cộng, diệt cộng” ác liệt. Anh trở thành cán bộ phong trào ở An Khánh (thuộc quận 9, theo phân chia hành chính của chế độ Sài Gòn). Sau cao trào Đồng khởi, phong trào đấu tranh cách mạng ở huyện Thủ Đức lên cao, anh Hai Thông (Nguyễn Văn Thông) từ chỗ là cơ sở mật, đã thoát ly gia đình, trở thành cán bộ xã An Phú. Anh bám trụ địa phương, vận động nhân dân đóng góp ủng hộ cách mạng, rút một số thanh niên hăng hái gia nhập, bổ sung lực lượng vũ trang huyện. Mẹ Ngô Thị Ký và vợ anh thi thoảng móc nối đi thăm; anh cũng nhiều lần ghé nhà khi về địa phương công tác. Người con thứ ba của mẹ là anh Bảy Giò (Nguyễn Minh Hùng) lấy vợ ở xã Tam An, Long Thành. Được cán bộ địa phương giáo dục, anh Bảy đi thoát ly năm 1963, khi địch thực hiện quốc sách ấp chiến lược trên khắp miền Nam. Địch nắm được gia đình mẹ Ngô Thị Ký có ba con đi giải phóng, chúng gom ông bà vào khu dồn dân Gò Dưa nằm ở rìa căn cứ Thủy quân lục chiến Sóng Thần. Chúng kiểm soát chặt các gia đình sống trong đó, mặt khác dùng họ làm lá chắn thịt ngăn lực lượng vũ trang ta đánh vào. Chồng mẹ, cũng như nhiều ông già khác bị gom vào đây - bị địch bắt nhiều lần vào các dịp lễ kỷ niệm, đưa xuống nhốt ở trại tù Thủ Thiêm một thời gian ngắn lại thả. Không cam chịu kiếp sống cá chậu chim lồng, chị Mười Dung (Nguyễn Thị Dung) - con gái út của mẹ - đi thoát ly, phục vụ quân y Nam Thủ Đức đầu năm 1965. Mẹ Ngô Thị Ký chưa nguôi nỗi buồn vì con gái út xa nhà thì đón nhận tin xé ruột, anh Tám Nhưng - Bí thư chi bộ xã An Khánh - hy sinh tại Cây Dầu (Long Thành) ngày 10/6/1965 (11 tháng 5 năm Ất Tỵ) trên đường công tác trở về, để lại cha mẹ già, người vợ trẻ và hai đứa con thơ. Tết Mậu Thân 1968, ta mở cuộc tập kích chiến lược vào tận hang ổ Mỹ và tay sai, làm Nhà Trắng rung chuyển. Sau đó, địch phản kích, liên tục tiến hành các chiến dịch bình định hòng đẩy các lực lượng cách mạng ra xa đô thị. Mẹ Ký nhớ con gái út, tìm đến đơn vị thăm cô. Thấy con gái bị thương hư một mắt, mẹ không cầm lòng được, ôm út Dung khóc vùi: - Đẻ con ra, cưng như cưng trứng mỏng, con đi khôn lớn, lành lặn mà nay giặc làm con thế này... Các đồng đội và con gái khuyên giải rất lâu, mẹ mới vơi nỗi xót xa. Ngày 3/1/1970 (26 tháng 11 năm Kỷ Dậu), anh Hai Thông - Bí thư chi bộ xã An Phú - hy sinh vì lọt ổ phục kích địch tại Sông Nhạn(1) (Bà Rịa), để lại cha mẹ già và tám đứa con. Nghe tin này, mẹ tưởng không sống nổi. Bị kìm kẹp trong khu dồn dân, mẹ không thể khóc lớn cho vợi nỗi đau lòng. Mẹ ráng nén nước mắt lúc ban ngày, đến đêm mới than thở khóc thương. Bảy tháng sau, mẹ đón nhận tin sét đánh: ngày 27/7/1970 (25 tháng 6 năm Canh Tuất), anh Bảy Giò - Bí thư chi bộ Tam An, rồi huyện ủy viên Long Thành phụ trách an ninh - hy sinh khi về Tam An phát động quần chúng, xây dựng cơ sở. Đau thương dồn dập kéo đến làm mẹ héo hon, buồn khổ khôn nguôi. Sau ngày toàn thắng, mẹ Ngô Thị Ký được hưởng chính sách của Nhà nước. Mẹ được tặng Huân chương Độc lập, chưa kịp nhận nhà tình nghĩa thì qua đời năm 1982. Gia đình mẹ chỉ đứng ở một phía cách mạng, mẹ có công sinh thành và nuôi dạy các con khôn lớn, nên người. Tổ quốc không quên ơn mẹ đã hiến dâng cho sự nghiệp độc lập dân tộc ba người con. Cuối năm 1994, mẹ Ngô Thị Ký được truy tặng danh hiệu vẻ vang Bà mẹ Việt Nam Anh hùng theo Quyết định số 394/KTCTN ngày 17/12/1994



