Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

NGÔ TÙNG CHÂU (1752 - 1801) - Tiền Giang nhân vật chí

Gia Lai07/08/2026Xã Bình Thành (Xã Bình Thành)5 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ngô Tùng Châu sinh năm 1752 tại thôn Thái Định, huyện Phù Ly, phủ Quy Nhơn (nay là thôn Thái Thuận, xã Cát Tài, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định).

Năm 1764, cha của ông là Ngô Tùng Trang đang giữ chức Thủ lại phủ Quy Nhơn được thăng chức Tri điền tuấn sự, được lệnh của chúa Nguyễn dẫn theo 100 dân đinh vào khai khẩn vùng đất Yên Luông (Gò Công). Lúc này, ông mới 12 tuổi cũng được theo cha vào vùng đất mới. Sau đó, ông được gởi lên Gia Định để học tập. Tại đây, ông theo học nhà giáo nổi tiếng nhất đất Gia Định là Sùng Đức tiên sinh Võ Trường Toản. Trong quá trình theo nghiệp bút nghiên, ông luôn cần mẫn dùi mài kinh sử và là một trong những học trò xuất sắc nhất của cụ Võ Trường Toản.

Năm 1770, ông gặp gỡ và kết nghĩa anh em với Võ Tánh, một hào kiệt đất Gò Công.  Năm 1772, ông kết hôn với em gái của Võ Tánh là Võ Thị Lội tại Gò Tre (nay thuộc xã Long Thuận, thị xã Gò Công). Năm 1783, ông tham gia cuộc khởi binh của Võ Tánh tại Gò Tre. Năm 1788, ông cùng với đạo quân Kiến Hòa của Võ Tánh theo phục vụ chúa Nguyễn Phúc Ánh.

Do là một nhà Nho học kiệt xuất, nên ông được Nguyễn Phúc Ánh tin dùng, lần lượt giữ các chức Chế cáo Viện Hàn lâm năm 1788, Điền tuấn sứ năm 1789 (quan trông coi việc khai khẩn, canh tác nông nghiệp, xác định điền thổ và quân lương).

Năm 1790, ông cùng với Bộ Tham mưu của chúa Nguyễn Phúc Ánh tiến quân ra miền Trung. Năm 1791, ông trở về Gia Định và thi đậu thủ khoa khoa thi năm Tân Hợi. Đây là khoa thi đầu tiên mà chúa Nguyễn Phúc Ánh cho tổ chức ở Nam Bộ. Ngay sau đó, ông được thăng làm Tham tri bộ Lễ; đồng thời, ông được chúa Nguyễn Phúc Ánh tin tưởng  cử làm Phụ đạo Đông cung (thầy dạy học Đông cung hoàng tử Nguyễn Phúc Cảnh). Sách Đại Nam chính biên liệt truyện chép lời của Nguyễn Phúc Ánh như sau: “Đông cung là ngôi trừ nhị của nước, chọn người làm sư phó, không ngươi (tức Ngô Tùng Châu) thì không được, ngươi chớ từ”. Về việc này, trong quyển Địa chí TP Hồ Chí Minh (tập 1: Lịch sử), Nguyễn Đình Đầu viết: “Nổi tiếng nhất đương thời là nhóm Gia Định tam gia, gồm ba nhân vật lỗi lạc là Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định và Ngô Nhơn Tịnh. Sự thực, Ngô Tùng Châu cũng là tay văn học kiệt xuất, tiếc rằng chết sớm, nên đời sau ít nói tới. Là học trò đầu hạng của Võ Trường Toản, ông rất được Nguyễn Phúc Ánh phục tài và tin dùng. Bởi vậy, sau khi được thăng chức Tham tri bộ Lễ, ông còn được cử làm phụ đạo dạy Đông cung Cảnh (Nguyễn Phúc Cảnh) mà lâu nay do thầy Bá Đa Lộc (Pigneau de Béhaine) kèm dạy, Ngô Tùng Châu đã nhận lấy và làm tròn một việc khó khăn tế nhị. Ngô Tùng Châu học hành thuần chánh, “hết lòng can răn, Đông cung nễ trọng lắm” (Đại Nam chính biên liệt truyện).

Ông còn là một vị quan ngay thẳng, trung trực. Sách Đại Nam chính biên liệt truyện chép: “Hộ bộ tham tri Nguyễn Văn Mỹ có công cầm cương giàn ngựa đi theo vua (tức Nguyễn Phúc Ánh - Gia Long), làm quan thích góp nhặt lấy thuế nặng  của dân, lúc chết thờ ở đền Hiển Trung. Tùng Châu nói với vua rằng: Đền Hiển Trung đặt ra là để khuyên người trung. Mỹ là bề tôi ăn trộm lấy gì để mà khuyên người được, xin truất đi. Vua nghĩ đến Mỹ có công, không nỡ truất đi mà khen lời Tùng Châu là thẳng lắm”.

Năm 1799, sau khi đánh tan quân của vương triều Cảnh Thịnh tại thành Quy Nhơn, chúa Phúc Nguyễn Ánh đổi cho tên thành này ra thành Bình Định và cử ông cùng với Võ Tánh trấn giữ. Tháng 2/1800, hai tướng của vương triều Cảnh Thịnh là Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng mang quân từ Phú Xuân (Huế) vào tấn công thành Bình Định. Ông cùng với Võ Tánh chỉ huy quân cố thủ.

Quyết không để mất thành, chúa Nguyễn Phúc Ánh đã hai lần mang quân tới giải vây thành Bình Định vào tháng 4-1800 và tháng 2-1801; nhưng đều bị quân Cảnh Thịnh chặn đứng. Thành Bình Định vẫn bị bao vây chặt chẽ. Trước tình hình đó, ông và Võ Tánh sai người lén đem mật thư ra cho Nguyễn Phúc Ánh; khuyên vị chúa Nguyễn nên kéo quân ra đánh Phú Xuân; và khi đó, sẽ dễ dàng giành được thắng lợi, vì đại bộ phận quân Cảnh Thịnh đang bị thu hút ở mặt trận Bình Định; lực lượng ở Phú Xuân rất yếu. Đồng thời, bức mật thư cũng nói rõ, ông và Võ Tánh sẽ cố giữ thành nhằm cầm chân quân Cảnh Thịnh. Nghe theo lời khuyên hợp lý của ông và Võ Tánh, Nguyễn Phúc Ánh cho quân tấn công và chiếm được được Phú Xuân vào tháng 6-1801.

Hai tướng Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng nghe tin Phú Xuân mất về tay Nguyễn Phúc Ánh, liền chia quân ra cứu. Quân cứu viện Cảnh Thịnh ra tới Quảng Nam thì bị quân chúa Nguyễn chận đánh nên phải quay trở lại Bình Định. Không có cách nào khác, Trần Quang Diệu ra lệnh quân lính ráo riết công kích thành Bình Định. Trước nguy cơ thành bị thất thủ, có người khuyên ông và Võ Tánh nên lẻn trốn ra ngoài; nhưng hai ông đã cự tuyệt, cương quyết ở lại với thành.  Tình thế ngày càng khốn quẫn, thấy không thể giữ thành lâu hơn được nữa, Võ Tánh viết thư cho Trần Quang Diệu đề nghị sau khi chiếm được thành thì không giết hại binh lính của ông.

Để không bị bắt, ngày 05-7-1801 (nhằm này 25 tháng 5 năm Tân Dậu), ông uống thuốc độc tự  tử. Ngày 07-7-1801 (nhằm này 27 tháng 5 năm Tân Dậu), Võ Tánh tiếp nối ông, tự thiêu mà chết tại lầu bát giác.

Trần Quang Diệu dẫn quân vào thành, rất xúc động trước cái chết trung dũng, đầy khí phách của ông và Võ Tánh, nên cho quân lính mai táng tử tế thi hài của hai ông. Đồng thời, vị tướng này cũng không giết hại bất cứ  người  lính nào trong thành.

Năm 1802, sau khi đánh thắng vương triều Cảnh Thịnh, Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi vua, lấy niên hiệu là Gia Long. Ông được nhà vua truy tặng là Tán trị công thần, Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu, Trụ quốc, Thái tử thái sư, Quận công, tên thụy là Trung Ý, cùng với Hoài Quốc công Võ Tánh hợp thờ ở đền Chiêu Trung. Năm 1804, ông được thờ tại đền Hiển Trung ở Gia Định, lại được cấp tự điền, tự dân, mộ phu, sai Tùng Hoảng là con nuôi thừa tự phụng thờ. Năm 1805, cho phụ tế ở Thái miếu. Năm1810, liệt vào thờ ở miếu Trung Hưng công thần. Năm 1821, vua Minh Mạng cấp cho vợ là Võ Thị Lội mỗi năm 50 quan tiền, 50 phương gạo. Năm 1824, đổi cho phụ tế ở Thế miếu. Năm 1831, vua Minh Mạng truy tặng ông tước Tá vận Công thần, Đặc tiến Vinh lộc đại phu, Hiệp biện đại học sĩ, Thiếu sư, kiêm Thái tử Thái sư, đổi tên thụy là Trung Mẫn, phong là Ninh Hòa quận công, phụ tế ở miếu đình như cũ.

Bản thân ông có cuộc sống thanh bạch. Một vị quan đồng liêu với ông là Trịnh Hoài Đức có bài thơ viết về ông như sau:

Đề Ngô Tùng Chu u cư

Bốc trạch đắc kỳ sở

Siêu nhiên  dĩ bảo chân

Trúc ly tham khúc kính

Thôn xá nhất nhàn nhân

Thảo kết đinh tiền thụ

Thư tàng tịch thượng trân

Bất tham kim khí địa

Nhàn mịch hạnh hoa xuân.

Nhà thơ Hoài Anh dịch thơ như sau:

Đề chỗ ở ẩn của Ngô Tùng Châu

Chọn được nơi tốt làm nhà,

Đứng ngoài cuộc giữ cái “ta” vẹn toàn.

Giậu trơ ba luống cúc vàng,

Một người nhàn ở trong làng vui sao.

Trước sân, cỏ bện dây thao,

Sách là món quý tiệc nào bằng đây.

Đất có hơi vàng, chẳng dây

Xuân trong hoa hạnh, nhàn hay kiếm tìm.

Sau khi tuẫn tiết, thi hài ông được quân của vương triều Cảnh Thịnh an táng trong thành Bình Định. Năm 1804, mộ của ông được nhà Nguyễn cải táng về quê và xây thành Lăng, tọa lạc tại Gò Tháp (Gò Lăng), dưới chân dãy núi Bà thuộc thôn Thái Định, xã Cát Tài, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. Đồng thời, ông còn được thờ ở Đình Trung tọa lạc tại trung tâm thị xã Gò Công. Hiện nay, thị xã Gò Công có một con đường mang tên ông. Ở xã Yên Luông (huyện Gò Công Tây) có địa danh Xóm Thủ với hàm nghĩa là xóm nhà có vị Thủ khoa Ngô Tùng Châu từng sinh sống.

Ông là một trong những trí thức hàng đầu ở Nam bộ vào cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX; là công thần khai sáng của nhà Nguyễn, có tấm lòng trung quân đáng trân trọng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn