Bài viết

Ngô Vi Liễn – người lưu lại căn cước của những làng xã Bắc Kỳ

Gần một thế kỷ trước, Ngô Vi Liễn đã đi, hỏi, đọc và ghi chép để lập nên những cuốn địa dư về các tỉnh, huyện và làng xã Bắc Kỳ. Nhờ công việc âm thầm ấy, tên gọi cùng diện mạo của nhiều vùng đất trước những cuộc đổi thay hành chính vẫn còn được nhận biết ngày nay.

Hà Nội24/08/2026Chi Đoàn trường TH&THCS Nguyễn Du (Tuy Đức)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tên của một làng quê có thể tồn tại hàng trăm năm. Nhưng cũng có những tên làng chỉ biến mất sau một quyết định sáp nhập, một lần điều chỉnh địa giới hoặc một trận lũ khiến người dân phải rời đi.

Khi tên gọi biến mất, một phần ký ức của vùng đất cũng có thể mất theo.

Gần một thế kỷ trước, học giả Ngô Vi Liễn đã dành nhiều năm ghi lại tên gọi, địa giới, sông núi, dân cư, nghề nghiệp, di tích và phong tục của các tỉnh, huyện, làng xã miền Bắc. Những cuốn sách của ông giống như những bộ hồ sơ căn cước được lập cho từng vùng đất.

Nhờ đó, người hôm nay vẫn có thể biết một ngôi làng xưa thuộc tổng nào, một huyện có bao nhiêu xã, người dân từng sống bằng nghề gì và trên mảnh đất ấy từng có những ngôi đình, ngôi chùa hay nhân vật nào được ghi nhớ.

Ngô Vi Liễn sinh ngày 5/11/1894 tại làng Tả Thanh Oai, tỉnh Hà Đông trước đây, nay thuộc huyện Thanh Trì, Hà Nội. Ông trưởng thành trong thời kỳ xã hội Việt Nam trải qua những thay đổi sâu sắc. Chế độ khoa cử Nho học dần khép lại, chữ Quốc ngữ ngày càng phổ biến và phương pháp nghiên cứu hiện đại bắt đầu được giới trí thức Việt Nam tiếp nhận.

Sau khi học tập tại Hà Nội và tốt nghiệp ngành luật, Ngô Vi Liễn làm việc tại Thư viện Trung ương trong khoảng thời gian từ năm 1923 đến năm 1927.

Công việc ở thư viện đem lại cho ông cơ hội tiếp xúc với nhiều loại tài liệu: sách địa lý, bản đồ, văn bản hành chính, địa chí cổ và các công trình nghiên cứu bằng tiếng Pháp. Nhưng ông sớm nhận ra một khoảng trống lớn.

Người Pháp có nhiều tài liệu phục vụ việc quản lý thuộc địa, song người Việt còn thiếu những cuốn sách địa lý được trình bày bằng tiếng Việt, dễ sử dụng và phản ánh cả đời sống văn hóa của từng địa phương.

Năm 1927, Ngô Vi Liễn cùng Đỗ Đình Nghiêm và Phạm Văn Thư biên soạn Địa dư các tỉnh Bắc Kỳ. Cuốn sách giới thiệu một cách có hệ thống về các tỉnh miền Bắc, từ vị trí địa lý, địa hình, sông ngòi đến dân cư, sản vật, giao thông và đơn vị hành chính.

Điều đáng chú ý là công trình được viết bằng chữ Quốc ngữ.

Trong bối cảnh phần lớn tri thức địa lý chuyên sâu vẫn nằm trong sách chữ Hán hoặc tài liệu tiếng Pháp, việc biên soạn bằng Quốc ngữ giúp học sinh, giáo viên và độc giả bình thường tiếp cận dễ dàng hơn với kiến thức về chính đất nước mình.

Nhưng Ngô Vi Liễn không dừng lại ở một cuốn địa lý khái quát.

Từ năm 1928, ông lần lượt đảm nhiệm công việc tại một số huyện như Cẩm Giàng, Quỳnh Côi, Bình Lục và Võ Giàng. Ở mỗi địa phương, ông tiếp tục khảo sát, thu thập tài liệu rồi biên soạn địa dư của huyện.

Nếu một cuốn địa lý thông thường chủ yếu mô tả núi, sông và đường sá, sách của Ngô Vi Liễn còn ghi lại nhiều lớp thông tin khác. Ông thống kê tên tổng, xã, thôn; tìm hiểu ruộng đất, dân số, nghề nghiệp, trường học, chợ, giao thông, sản vật, danh lam, di tích và nhân vật của địa phương.

Trong Địa dư huyện Quỳnh Côi xuất bản năm 1933, người đọc có thể tìm thấy bản đồ huyện, danh sách các đơn vị hành chính, tình hình canh tác và những sản vật gắn với từng vùng. Ngay cả món mắm cá rô của địa phương cũng được ông ghi nhận như một phần của đời sống dân gian.

Chi tiết tưởng nhỏ ấy cho thấy cách nhìn của Ngô Vi Liễn: địa lý không chỉ là đường ranh giới trên bản đồ. Một vùng đất còn được tạo nên bởi cách con người làm ruộng, buôn bán, ăn uống, thờ cúng và gọi tên nơi mình sinh sống.

Khi biên soạn Địa dư huyện Bình Lục, ông ghi lại hệ thống văn từ, văn chỉ cùng truyền thống khoa bảng của địa phương. Những tư liệu ấy ngày nay vẫn được các công trình địa chí sử dụng để xác định các di tích và hiểu thêm đời sống văn hóa của cư dân Bình Lục trước đây.

Công việc của Ngô Vi Liễn đòi hỏi sự kiên trì đặc biệt. Để ghi đúng một tên làng, người khảo cứu phải đối chiếu cách gọi của người dân với sổ sách hành chính. Một địa danh có thể được viết bằng chữ Hán, chữ Nôm, Quốc ngữ hoặc tiếng Pháp, mỗi nguồn lại ghi khác nhau. Có làng đã đổi tên; có xã được tách, nhập; cũng có một địa danh tồn tại dưới nhiều cách phát âm.

Nếu chỉ sao chép một tài liệu, sai sót rất dễ được truyền từ cuốn sách này sang cuốn sách khác.

Bởi vậy, việc Ngô Vi Liễn thu thập và sắp xếp tên làng xã không phải một công việc hành chính đơn giản. Đó là quá trình nối nhiều lớp ngôn ngữ, văn tự và ký ức địa phương vào cùng một hệ thống có thể tra cứu.

Bên cạnh nghiên cứu địa lý, Ngô Vi Liễn còn quan tâm sâu sắc đến việc phổ biến tri thức. Từ năm 1928 đến năm 1933, ông làm Hội trưởng Hội Trí Tri Bắc Kỳ.

Hội Trí Tri tổ chức các lớp dạy chữ Quốc ngữ và tiếng Pháp cho trẻ em, người lớn; mở thư viện; tổ chức diễn thuyết về văn học, lịch sử, địa lý, khoa học và vệ sinh; đồng thời dịch những kiến thức phổ thông sang tiếng Việt.

Trong những năm Ngô Vi Liễn phụ trách, hội duy trì hoạt động giữa hoàn cảnh chính quyền thuộc địa luôn kiểm soát chặt chẽ các tổ chức của người Việt. Thông qua lớp học, thư viện và các buổi diễn thuyết, những kiến thức trước đó chỉ một nhóm nhỏ có điều kiện tiếp cận dần được phổ biến rộng hơn.

Ông còn biên soạn những sách như Viết Quốc ngữ cho đúngNhật dụng thông thư. Từ cách dùng tiếng Việt đến kiến thức địa lý, các công trình đều thể hiện một mong muốn nhất quán: biến tri thức thành điều người bình thường có thể đọc, hiểu và sử dụng.

Ngô Vi Liễn mất ngày 14/5/1945 tại Hà Nội, chỉ khoảng ba tháng trước khi Cách mạng Tháng Tám thành công. Ông không kịp chứng kiến chữ Quốc ngữ trở thành chữ viết chính thức của nước Việt Nam độc lập, cũng không nhìn thấy những biến đổi hành chính lớn diễn ra sau đó.

Nhưng chính những biến đổi ấy lại làm cho công trình của ông ngày càng có giá trị.

Qua chiến tranh, nhiều làng xã thay đổi địa giới. Tên tổng không còn được sử dụng; nhiều huyện được chia tách hoặc sáp nhập; không ít di tích bị hư hại. Nếu thiếu những tài liệu được lập từ trước, việc xác định diện mạo của một vùng đất trong quá khứ sẽ rất khó khăn.

Ngày nay, Tên làng xã và địa dư các tỉnh Bắc Kỳ vẫn được thư viện và giới nghiên cứu lưu giữ, tái bản. Các nhà nghiên cứu lịch sử địa phương, văn hóa, địa danh và gia phả có thể dựa vào đó để lần theo những tên đất cũ.

Trung tâm Lưu trữ quốc gia cũng nhìn nhận các công trình của Ngô Vi Liễn như một phần trong dòng chảy nghiên cứu địa danh Việt Nam, nối tiếp truyền thống từ Dư địa chí của Nguyễn Trãi, Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú và Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn.

Ngô Vi Liễn không phải người vẽ nên ranh giới đất nước. Công việc của ông âm thầm hơn: ghi lại những đơn vị nhỏ nhất làm nên đất nước – từng tỉnh, từng huyện, từng tổng và từng làng.

Mỗi tên làng được ông giữ lại là một dấu mốc để con cháu nhận biết nơi tổ tiên từng sống. Mỗi dòng ghi chép về nghề nghiệp, chợ búa, đình chùa là một mảnh đời sống của người xưa được chuyển đến tương lai.

Một quốc gia không chỉ hiện diện trên bản đồ bằng đường biên giới. Quốc gia ấy còn được tạo thành từ hàng nghìn tên đất mà người dân gọi bằng ký ức và tình cảm.

Ngô Vi Liễn đã dành cuộc đời để những tên gọi ấy không bị thời gian xóa mất.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn