NGÔ XUÂN TƯ – NGƯỜI LÍNH HẬU CẦN TRONG LỬA ĐẠN THÀNH CỔ
Câu chuyện về cựu chiến binh Ngô Xuân Tư tái hiện hình ảnh người lính hậu cần thầm lặng nhưng kiên cường trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ ác liệt. Qua những kỷ vật giản dị và ký ức 81 ngày đêm ở Thành cổ Quảng Trị, bài viết làm nổi bật sự hy sinh bền bỉ, tinh thần trách nhiệm và lòng yêu nước sâu sắc của người lính “Bộ đội Cụ Hồ”. Câu chuyện không chỉ là lời tri ân đối với một thế hệ đã cống hiến tuổi xuân cho Tổ quốc, mà còn góp phần giáo dục, lan tỏa niềm tự hào và ý chí tiếp nối tru
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã lùi xa gần nửa thế kỷ, nhưng với cựu chiến binh Ngô Xuân Tư, ký ức về một thời gian khổ, hy sinh mà vô cùng tự hào vẫn còn vẹn nguyên, như mới hôm qua. Ở tuổi ngoài bảy mươi, sống tại tiểu khu 7, thị trấn Phù Yên, huyện Phù Yên, ánh mắt ông vẫn sáng, giọng kể vẫn trầm ấm khi nhắc về những năm tháng “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”.
Sinh năm 1952 tại xã Phạm Ngũ Lão, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên, trong một gia đình có truyền thống cách mạng, ông Ngô Xuân Tư sớm được hun đúc tinh thần yêu nước. Tháng 2/1972, khi cuộc kháng chiến bước vào giai đoạn quyết liệt nhất, chàng trai vừa tròn đôi mươi đã xung phong nhập ngũ, biên chế vào Đại đội 1, Tiểu đoàn 571, Trung đoàn 5, Sư đoàn 350, đóng quân tại Quảng Ninh.
Sau ba tháng huấn luyện, tháng 5/1972, ông cùng đơn vị hành quân vào Sư đoàn 320B tại Quảng Trị, nhận nhiệm vụ hậu cần – công việc thầm lặng nhưng vô cùng hiểm nguy. Hàng ngày, ông và đồng đội vận chuyển lương thực, đạn dược, dựng kho, nấu ăn phục vụ bộ đội chiến đấu. Để đến được các điểm tập kết, đơn vị phải băng rừng, vượt suối, đi trong đêm tối, tránh máy bay địch, đối mặt với pháo kích, bom bi và mìn rình rập dưới từng bước chân.
Mùa hè năm 1972, 81 ngày đêm Thành cổ Quảng Trị trở thành ký ức đau xót nhất trong cuộc đời người lính hậu cần. Dù không trực tiếp cầm súng nơi tuyến đầu, nhưng ông Tư và đồng đội luôn có mặt tại những điểm nóng nhất, tiếp tế từng bữa ăn, từng viên đạn cho chiến sĩ. Mỗi ngày trôi qua là những tin báo thương vong dồn dập, máu đồng đội nhuộm đỏ dòng sông Thạch Hãn. Ông nghẹn ngào nhớ lại hình ảnh những chiến sĩ trẻ Trung đoàn 54, phần lớn quê Thái Bình, ngã xuống khi chưa kịp gọi tên mẹ, chỉ để lại chiếc mũ sắt méo mó và cuốn sổ tay đẫm máu.
Tháng 9/1973, một sự kiện đặc biệt diễn ra trên mảnh đất Quảng Trị vừa đẫm máu chiến tranh: Chủ tịch Cuba Fidel Castro đến thăm vùng giải phóng. Ông Ngô Xuân Tư cùng đơn vị được giao nhiệm vụ hậu cần và bảo vệ đoàn, kiểm tra, rà phá bom mìn, đảm bảo an toàn tuyến đường từ cầu Hiền Lương vào Thành cổ Quảng Trị. Dưới cái nắng gay gắt miền Trung, giữa những tuyến đường bị bom cày xới, người lính hậu cần vẫn miệt mài sửa đường, lót ván, dựng cột mốc, đảm bảo chuyến thăm lịch sử diễn ra an toàn tuyệt đối.
Cuối năm 1973, ông được điều về Sư đoàn 320A, đóng quân tại Bỉm Sơn (Thanh Hóa), tiếp tục công tác hậu cần và củng cố lực lượng. Tháng 2/1975, đơn vị hành quân vào Nam, tham gia chiến dịch giải phóng Sài Gòn. Trưa 30/4/1975, tin chiến thắng vang lên: Dinh Độc Lập bị chiếm, miền Nam hoàn toàn giải phóng. Trong khoảnh khắc lịch sử ấy, những người lính vỡ òa trong niềm vui khôn tả.
Một ngày sau, đơn vị ông được giao nhiệm vụ tiếp quản Dinh Độc Lập, tận mắt chứng kiến lá cờ Giải phóng tung bay, chứng kiến nhân dân Sài Gòn đổ ra đường reo hò chào đón quân ta. Ông Tư xúc động kể: “Thời khắc ấy, chúng tôi vui sướng không nói nên lời. Đất nước đã thực sự thống nhất.” Những ngày sau đó, đơn vị tiếp tục làm nhiệm vụ giữ gìn an ninh, ổn định đời sống nhân dân.
Sau chiến tranh, ông tiếp tục phục vụ trong quân đội, tham gia bảo vệ biên giới, đến năm 1982 thì xuất ngũ, chuyển ngành về công tác tại Công ty Thủy điện Phù Yên II, đưa gia đình từ Hưng Yên lên Phù Yên sinh sống. Năm 2000, ông nghỉ hưu theo chế độ.
Với những cống hiến thầm lặng nhưng bền bỉ, cựu chiến binh Ngô Xuân Tư được trao tặng Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhì. Trở về đời thường, ông vẫn giữ trọn phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, tích cực tham gia công tác xã hội, kể chuyện truyền thống cho thế hệ trẻ, trở thành tấm gương sáng về lòng yêu nước, tinh thần trách nhiệm và sự hy sinh âm thầm trong thời hoa lửa của dân tộc.



