NGOẠI GIAO
NGOẠI
Nhà Ngoại Giao Khí Phách Và Bản Lĩnh Đàm Phán Lịch Sử Của Dân Tộc
Lịch sử đấu tranh giành độc lập, thống nhất non sông của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX không chỉ được viết nên bằng những chiến công vang dội trên chiến trường mà còn bằng những cuộc đọ sức trí tuệ khốc liệt trên bàn cờ ngoại giao quốc tế. Trong cuộc đối đầu lịch sử ấy, đồng chí Lê Đức Thọ nổi lên như một nhân vật xuất chúng – nhà đàm phán kiệt xuất, nhà cách mạng tiền bối với tinh thần kiên định và phong thái ngoại giao lẫy lừng, người đã góp phần quyết định vào thắng lợi của Hiệp định Paris năm 1973.
Đồng chí Lê Đức Thọ, tên thật là Phan Đình Khải, sinh năm 1911 tại Nam Định – vùng đất giàu truyền thống hiếu học và yêu nước. Giác ngộ lý tưởng từ rất sớm, ông tham gia phong trào bãi khóa của học sinh, gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên từ năm 1928 và trở thành một trong những đảng viên tiền bối của Đảng Cộng sản Đông Dương. Cuộc đời hoạt động cách mạng của ông gắn liền với muôn vàn gian nan, thử thách. Ông từng hai lần bị thực dân Pháp bắt giam, đày ải qua các nhà tù khét tiếng như Hỏa Lò, Côn Đảo và Sơn La. Dưới chế độ lao tù tàn bạo, người chiến sĩ trẻ ấy không những không khuất phục mà còn biến chốn ngục tù thành trường học cách mạng, tôi luyện bản lĩnh gan dạ, lập trường chính trị vững vàng và tầm nhìn sâu rộng.
Dấu son chói lọi nhất trong cuộc đời chính trị và ngoại giao của đồng chí Lê Đức Thọ chính là giai đoạn ông đảm nhiệm vai trò Cố vấn đặc biệt của Phái đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Paris. Đây là cuộc đàm phán hòa bình dài nhất, phức tạp và căng thẳng nhất trong lịch sử ngoại giao thế giới hiện đại, kéo dài suốt gần 5 năm trời (1968 – 1973). Tại các phiên họp kín nghẹt thở, đồng chí Lê Đức Thọ đã trực tiếp đối thoại và đọ trí cùng Cố vấn An ninh Quốc gia Mỹ Henry Kissinger – một học giả ngoại giao lọc lõi, đại diện cho siêu cường số một thế giới.
Với sự am hiểu sâu sắc thực tế chiến trường cùng nghệ thuật kết hợp chặt chẽ giữa "vừa đánh vừa đàm", ông Lê Đức Thọ đã thể hiện phong cách ngoại giao vừa cứng rắn về nguyên tắc, vừa linh hoạt, mềm dẻo về sách lược. Trước mọi sức ép chính trị và đòn phủ đầu quân sự tàn bạo (như cuộc tập kích đường không bằng pháo đài bay B-52 vào Hà Nội cuối năm 1972), ông kiên quyết giữ vững mục tiêu cốt lõi: Mỹ phải chấm dứt chiến tranh, rút hết quân đội về nước mà không được yêu cầu quân đội miền Bắc rút khỏi miền Nam. Henry Kissinger từng phải thừa nhận trong hồi ký của mình rằng Lê Đức Thọ là một đối thủ đàm phán cừ khôi, luôn tự tin, kiên định đến mức đáng nể sợ. Nhờ sự kiên định sắt đá ấy, Hiệp định Paris được ký kết ngày 27/1/1973, tạo nên bước ngoặt chiến lược quyết định "cho Mỹ cút", mở đường để dân tộc ta tiến tới toàn thắng mùa Xuân 1975.
Đặc biệt, năm 1973, khi Ủy ban Nobel Na Uy quyết định trao Giải Nobel Hòa bình cho đồng chí Lê Đức Thọ cùng với Henry Kissinger, ông đã đưa ra một quyết định chấn động thế giới: kiên quyết từ chối nhận giải thưởng. Ông thẳng thắn tuyên bố rằng đất nước Việt Nam lúc đó vẫn chưa có hòa bình thực sự; quân xâm lược Mỹ vẫn gián tiếp can thiệp và bom đạn vẫn đang dội xuống đầu đồng bào miền Nam. Quyết định khước từ ấy không chỉ là sự tôn trọng sự thật lịch sử mà còn là tấm gương sáng ngời về lòng tự trọng, sự liêm chính của người cộng sản và khí phách kiêu hãnh của một dân tộc không màng danh lợi hình thức khi non sông chưa trọn vẹn độc lập.
Bên cạnh tài năng ngoại giao kiệt xuất, đồng chí Lê Đức Thọ còn là nhà lãnh đạo chủ chốt của Đảng trên mặt trận tổ chức cán bộ với phong cách làm việc liêm chính, công tâm, đồng thời là một hồn thơ trữ tình tha thiết với quê hương qua bút danh Mai Bút Kiếm. Đồng chí từ trần năm 1990, để lại tấm gương sáng ngời về lòng trung kiên và nghệ thuật bảo vệ lợi ích tối cao của dân tộc trên trường quốc tế.



