NGÔI MỘ DƯỚI ĐÁY HỒ
Năm 1997, trở lại chiến trường xưa bên hồ thủy điện Nậm Ngừm (Viêng Chăn), người kể nghẹn ngào nhớ về sự hy sinh của anh Hiệu năm 1969 khi làm nhiệm vụ trinh sát gần đồn Keng Nọi. Anh bị nước cuốn trôi, tổ đồng đội đã liều mình túc trực nhiều ngày bên sông, vượt qua hiểm nguy và nỗi sợ thú dữ để tìm, rồi vớt được thi thể anh giữa vực xoáy và mai táng tại căn cứ. Sau này, bom B52 tàn phá dữ dội, địa hình đổi thay, mộ anh không còn tìm thấy và có thể đã nằm lại dưới lòng hồ thủy điện. Ký ức về ngư
| Tôi dự lễ "hạ sao" và nhận sổ hưu về sống với đời thường tháng 4 năm 1990 thì bảy năm sau - năm 1997 được các bạn Lào mời sang thăm lại chiến trường xưa. Đứng trên bờ đập của thủy điện Nậm Ngừm, anh bạn người Lào chỉ cho tôi vùng hồ chứa nước của nhà máy. Thế là biết bao niềm vui nỗi buồn gắn bó với khu căn cứ vùng địch hậu tỉnh Viêng Chăn Đông đã thức dậy trong tôi. Nó cứ chập chờn dưới đáy hồ không sao vớt lên được. Mắt tôi nhòa đi khi thấy cái bóng của anh Hiệu đang chơi vơi trong làn nước trong vắt và mênh mang của vùng hồ... Ngày ấy, cách nay vừa tròn 40 năm. Năm 1969, chúng tôi được trên cử về vùng địch hậu của huyện Nhọn Ngừm thuộc tỉnh Viêng Chăn Đông này xây dựng căn cứ địa để đón lõng, chờ thời cơ giải phóng Thủ đô. Một ngày đầu xuân năm Kỷ Dậu (1969), tổ trinh sát của khu căn cứ do anh Hiệu phụ trách ngồi trên một chiếc thuyền mủng, ngược sông Nậm Ngừm luồn vào đồn Keng Nọi của địch. Keng Nọi là một đồn địch đóng cách khu căn cứ của chúng tôi chỉ chừng vài cây số, nó án ngữ cả một vùng hạ lưu, cắt đứt nguồn tiếp tế từ các bản dưới đó cho chúng tôi. Nếu không nhổ được nó thì cả khu căn cứ của tỉnh Viêng Chăn Đông sẽ không duy trì được cuộc sống. Khi tổ trinh sát đã tiếp cận tới gần đồn địch, thuyền đã neo vào một gốc cây, các tổ viên đã trèo được lên vách đá, trên thuyền chỉ còn một mình anh Hiệu thì dây thuyền bị tuột khỏi gốc cây và lập tức dòng nước đã lật úp thuyền, quật vào vách đá. Anh Hiệu hy sinh chỉ cách đồn địch chừng dăm trăm mét về phía thượng nguồn. Nếu không vớt được xác anh thì anh sẽ trôi vào đồn địch và bao nhiêu tài liệu nằm trong xắc-cốt anh đeo sẽ rơi vào tay giặc. Như vậy, tổn thất sẽ không sao lường được. Mặt khác, bọn phỉ sẽ băm nát xác anh, vứt xuống sông Nậm Ngừm làm mồi cho cá! Vì vậy, anh Nguyễn Quang Tăng - trưởng cố vấn cho bạn ở tỉnh đội Viêng Chăn Đông đã cử tôi, anh Mầu, anh Kính và anh Bun Mi, do tôi làm tổ trưởng bí mật đón lõng trước đồn địch về phía thượng nguồn để vót cho được xác anh Hiệu. Chúng tôi nhận mười ngày gạo, nai nịt gọn gàng rồi luồn rừng, vác theo một chiếc thuyền men bờ sông Nậm Ngừm xuôi về đồn địch. Đây là khu rừng lau sậy, xứ sở của hổ báo, nên chúng tôi cũng sò sợ. Vì trong khu căn cứ của chúng tôi đã có đồng chí bị hổ vồ khi đi một mình trong đêm. Tuy nhiên, với tổ chúng tôi, chuyện sợ hổ cũng chỉ thoáng qua vì đã có Bun Mi, anh là người vùng này, anh bảo: "Hổ bao giờ cũng sợ người. Nó chỉ vồ những người sợ nó. Với lại, hổ là chúa của những kẻ đãng trí nên đi tới đâu là nó phải đái để nhớ đường về. Mà nước đái hổ thì khai tới nhức mũi!". Biết anh nói cũng hơi dóc, nhưng cũng có tác dụng yên lòng chúng tôi. Mặt khác, cứ mỗi khi nghĩ tới bọn địch băm nát xác anh em mình vứt cho cá là chúng tôi lại không sợ gì nữa. Cứ lan man về chuyện hổ báo, chả mấy chốc đã tiếp cận đồn địch. Khi dòng sông Nậm Ngừm chảy tới gần đồn Keng Nọi thì phình ra tạo thành một cái vực. Nước trong cái vực ấy hầu như đứng yên mà chỉ có rất nhiều cái xoáy. Chúng tôi lần xuống phía dưới vực, dòng sông Nậm Ngừm bỗng chảy lững lờ như một chàng lãng tử. Vậy nước tạo thành những dòng thác ở phía trên vực chảy đi đâu? Bun Mi bảo, nó chảy vào lòng đất. Thế thì rất có thể xác anh Hiệu sẽ bị những cái xoáy kia xoáy vào lòng đất mất. Tất cả anh em chúng tôi đều thấy cay cay trong mắt. Chúng tôi phân công nhau túc trực ở khúc sông phía trên đồn địch. Đã sang ngày thứ ba mà vẫn không tìm thấy anh đâu. Mấy anh em ngồi lại phán đoán. Anh Mầu bảo, có thể trong lúc nào đó chúng ta sao nhãng, anh ấy đã trôi vào đồn địch mất rồi. Tôi cũng nghiêng về nhận định của anh Mầu. Còn ý của anh Kính thì khác. Anh bảo khúc sông mà chúng tôi túc trực, nước có chảy xiết đâu, nên xác anh Hiệu không thể trôi qua mắt chúng tôi được mà rất có thể mấy cái xoáy ở giữa vực đã xoáy anh ấy vào lòng đất. Đó là hai ý kiến hoàn toàn ngược nhau. Còn ý của anh Bun Mi lại khác, anh bảo cả hai khả năng kia đều không thể có được. Bởi lẽ nước chảy lững lờ thì xác anh không thể trôi dưới mặt nước mà qua "trạm gác" của chúng ta; còn những cái xoáy kia chỉ là những cái xoáy nhỏ, vận tốc của nó chỉ đủ sức xoáy ba cái lá khô chứ không thể xoáy dựng đứng cả một khối kềnh càng như anh Hiệu được, chắc chắn xác anh còn dật dờ đâu đây. Là người chịu trách nhiệm trước Thủ trưởng Quang Tăng, tôi hỏi anh em: "Vậy bây giờ giải quyết thế nào?". Anh Mầu, người nhận định là xác anh Hiệu đã trôi vào đồn địch hiến kế: "Theo tôi, trong bốn anh em mình, chỉ để lại một người túc trực ở trạm gác, còn ba anh em luồn vào đồn địch bắt sống lấy một tên đem ra khai thác để biết xem xác anh đã trôi vào đồn địch chưa? Nếu chưa thì ta cứ kiên trì tìm anh ở cái vực này, trước sau sẽ thấy". Chúng tôi thống nhất phương án của anh Mầu và quyết định chờ cho trời tối sẽ đột nhập vào đồn địch. Chiều hôm thứ ba đó, chúng tôi thổi cơm ăn sớm, tranh thủ chợp mắt cho tỉnh táo để nửa đêm sẽ đột nhập vào đồn. Trong bốn anh em, chúng tôi phân công anh Kính túc trực ở trạm gác, đem cơm cho anh ấy ăn tại đó. Còn ba anh em thì bốc cơm giữa rừng. Đang ăn, bỗng thấy cái mùi gì khang khác, nửa như thum thủm, nửa như khai khai. Còn đang phán đoán cái mùi ấy là mùi gì thì một tiếng động đánh xoạt gần đó. Tôi nghĩ ngay đên hình bóng của con hổ, người run cầm cập, không sao nuốt nổi miếng cơm. Chắc anh Mầu cũng nghĩ như tôi nên mặt tái mét. Mặc dù anh Bun Mi đã giải thích cho chúng tôi là loài hổ rất ít khi kiếm ăn ban ngày, nhưng tâm lý sợ hổ vẫn ám ảnh trong chúng tôi. Mang tâm trạng này mà vào đồn địch thì không những không bắt sống được địch mà nó lại bắt sống mình. Nghĩ vậy nên chúng tôi tạm hoãn. Chúng tôi, trừ anh Bun Mi, đều phải trèo lên cây, chọn những chạc ba ngồi thu lu trên ấy. Đêm mùa khô ở Bắc Lào rét thấu xương. Mùa xuân ở Lào khác xa mùa xuân miền Bắc bên mình. Bên ấy, mùa xuân không có "mưa xuân phơi phới bay" như trong thơ Nguyễn Bính và cũng không có hoa đào cười gió đông trong Truyện Kiều của cụ Tiên Điền mà là một mùa xuân oi ả, khô khan và ngứa ngáy. Lá vàng khô giòn, cong cớn dội vào không gian mỗi bước đi của thú rừng, kể cả những bước đi rón rén của con vật kiếm ăn đêm. Càng về sáng, cái mùi thum thủm càng rõ, đâu đó như có tiếng động của đám nhặng xanh, một cái gì rất mơ hồ thoáng qua đầu tôi về cái mùi thum thủm ấy, nó na ná như mùi của xác chết ở Cánh Đồng Chum năm 1962 mà tôi đã được chứng kiến. Bất giác, tôi nghĩ đến xác của anh Hiệu. Rất có thể anh đang nằm ở đâu đây? Tự nhiên, tôi quên đi hình ảnh của những con hổ mà tôi đã tưởng tượng ra để dọa mình từ chiều hôm đó đến giờ. Tôi tụt xuống cây, đến cái cây của Mầu, của Kính vỗ nhẹ dưới gốc. Hai anh tụt xuống, tôi hỏi: "Các cậu có ngửi thấy mùi gì là lạ không?". Mầu bảo: "Hình như mùi của hổ mỗi lúc mỗi gần anh ạ?". "Nhưng nó không khai mà thum thủm"- Kính chen vào. |


