Bài viết

NGỌN ĐÈN KHÔNG TẮT

NGỌN ĐÈN KHÔNG TẮT

Đà Nẵng18/05/2026Trịnh Hoàng Nhân (Dược 11B Đại học Kĩ thuật Y - Dược Đà Nẵng)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Mỗi lần nhà tôi mất điện, bà ngoại lại thắp một ngọn đèn dầu nhỏ đặt giữa nhà. Ánh lửa leo lét phủ lên những nếp nhăn trên gương mặt bà, vàng như màu của thời gian cũ. Tôi thường ngồi bên cạnh, chống cằm nhìn ngọn đèn lay động và nghe tiếng côn trùng ngoài vườn kêu rả rích. Trong bóng tối ấy, bà hay kể cho tôi nghe về một người mà bà gọi là “ngọn đèn không bao giờ tắt”.

Bà gọi người ấy là Ánh – cái tên như một vệt sáng nhỏ nhoi nhưng kiên cường, xuyên qua suốt những năm tháng tăm tối của chiến tranh.

Bà không phải anh hùng được ghi tên trong sách giáo khoa. Không có tượng đài nào dựng lên cho bà, cũng chẳng có huân chương lấp lánh trong tủ kính. Nhưng với những người từng sống qua chiến tranh ở vùng đất cực Nam Tổ quốc, bà Ánh là một phần ký ức không thể phai mờ.

Năm ấy, bà Ánh mới mười chín tuổi.

Mười chín tuổi của bây giờ là những buổi cà phê với bạn bè, là tiếng nhạc vang lên trong tai nghe, là những ước mơ đại học còn dang dở. Nhưng mười chín tuổi của bà Ánh là tiếng bom rơi xé trời, là những đêm băng đồng trong mưa đạn, là đôi chân trần lội qua bùn lầy để cứu người.

Bà ngoại tôi kể rằng, hồi trẻ, bà Ánh đẹp lắm.

Đẹp theo kiểu con gái miền Tây: tóc dài, mắt sáng và nụ cười hiền như nước sông mùa lặng. Nhà bà nghèo. Cha mất sớm vì bệnh nặng, mẹ một mình nuôi ba chị em bằng nghề vá lưới thuê. Ánh học rất giỏi, đặc biệt thích môn Sinh học. Ước mơ lớn nhất của bà là được làm bác sĩ.

Nhưng chiến tranh không cho người ta nhiều lựa chọn.

Năm Ánh mười bảy tuổi, một trận càn quét đi qua xóm nhỏ. Lửa cháy đỏ rực cả một góc trời. Trong khói bụi mịt mù, Ánh tận mắt chứng kiến một người mẹ ôm đứa con bê bết máu gào khóc giữa sân đình. Đứa bé chỉ khoảng năm tuổi. Nó chết vì mất máu trước khi có người cứu chữa.

Đêm đó, Ánh ngồi trước hiên nhà rất lâu.

Mẹ bà hỏi: – Con sợ à?

Ánh lắc đầu. – Con không sợ. Con chỉ nghĩ… nếu có người biết cứu người, chắc thằng bé đã không chết.

Ít lâu sau, Ánh xin tham gia lực lượng quân y địa phương.

Ngày bà đi, mẹ chỉ kịp dúi vào tay con gái một chiếc khăn rằn cũ. – Nhà mình nghèo, má chẳng có gì cho con. Chỉ mong con sống.

Ánh cười: – Nếu ai cũng chỉ muốn sống cho riêng mình, đất nước này biết đến bao giờ mới bình yên hả má?

Rồi bà đi.

Những năm tháng sau đó là chuỗi ngày không ai dám nghĩ một cô gái nhỏ bé có thể vượt qua.

Trạm quân y khi ấy nằm sâu trong rừng đước. Đó chỉ là một căn chòi dựng bằng lá, nền đất luôn ẩm lạnh vì nước ngập. Ánh cùng đồng đội thiếu đủ thứ: thiếu thuốc, thiếu gạc, thiếu cả cơm ăn.

Có những hôm, bà phải giã lá cây để cầm máu. Có lúc dùng vỏ chai thủy tinh mài nhẵn thay dao mổ. Những đêm thương binh chuyển về liên tục, bà thức trắng đến sáng, đôi tay run lên vì kiệt sức nhưng vẫn cố khâu từng vết thương.

Bà ngoại tôi nói rằng, thời đó người ta sống bằng niềm tin nhiều hơn bằng cơm gạo.

“ Niềm tin rằng đất nước sẽ có ngày hòa bình. Niềm tin rằng những hy sinh hôm nay sẽ đổi lấy tương lai cho thế hệ mai sau ”.

Một lần, đơn vị nhận nhiệm vụ đưa thương binh vượt sông trong đêm. Trời mưa lớn, nước dâng cao. Bom đạn dội xuống liên hồi như muốn xé nát mặt đất.

Trong lúc chuyển thương binh lên xuồng, một chiến sĩ trẻ bị mảnh pháo găm vào ngực. Máu chảy quá nhiều.

Người lính ấy tên Luân. Anh mới cưới vợ chưa đầy ba tháng.

Luân nắm chặt tay Ánh, hơi thở đứt quãng: – Đừng… bỏ tôi.

Ánh lập tức sơ cứu nhưng tình hình quá nguy hiểm. Nếu không phẫu thuật ngay, Luân sẽ chết.

Trong căn chòi nhỏ giữa rừng, dưới ánh đèn dầu yếu ớt, Ánh quyết định thực hiện ca mổ.

Bên ngoài, tiếng bom vẫn gầm rú. Bên trong, mồ hôi bà chảy dài trên trán.

Không có thuốc mê đầy đủ. Không có dụng cụ y tế đúng nghĩa. Chỉ có vài chiếc kẹp đã cũ, ít băng gạc và một trái tim không chịu đầu hàng.

Ca mổ kéo dài hơn hai giờ. Khi lấy được mảnh pháo ra khỏi ngực Luân, đôi tay Ánh gần như tê cứng.

Nhưng bà đã cứu được anh.

Nhiều năm sau, mỗi dịp giỗ đồng đội, ông Luân đều mang theo bó hoa trắng đến thắp nhang cho bà Ánh. Ông thường nói: – Tôi còn sống đến hôm nay là nhờ cô ấy đổi tuổi trẻ mình lấy mạng sống cho người khác.

Nhưng điều khiến bà ngoại tôi nhớ nhất không phải những lần cứu người. Mà là một đêm cuối năm.

Hôm ấy, địch càn vào khu căn cứ. Mọi người phải di chuyển gấp. Trong lúc rút lui, đơn vị phát hiện còn một bé gái bị bỏ lại ở xóm ven sông.

Con bé chỉ khoảng sáu tuổi. Nó bị sốt nặng và không đi nổi.

Giữa lúc bom đạn dày đặc, ai cũng hiểu quay lại cứu đứa bé đồng nghĩa với đặt mạng sống mình vào lằn ranh tử thần.

Ánh nói: – Em đi.

Đồng đội giữ bà lại. – Nguy hiểm lắm!

Ánh chỉ cười. – Nó còn nhỏ quá.

Rồi bà lao vào màn đêm.

Không ai biết bằng cách nào bà tìm được đứa bé giữa khói lửa mịt mù. Chỉ biết gần sáng hôm sau, Ánh trở về.

Trên lưng bà là đứa bé đang mê man sốt. Còn vai bà bê bết máu. Một mảnh đạn đã ghim sâu vào vai trái.

Bà ngoại tôi kể, lúc đó Ánh đau đến mức mặt trắng bệch nhưng vẫn hỏi trước tiên: – Con bé có sao không?

Người ta bảo những người từng đi qua chiến tranh thường trở nên chai sạn. Nhưng có những con người càng ở trong khói lửa lại càng sáng lên lòng nhân hậu. Ánh là người như thế.

Sau lần bị thương ấy, sức khỏe bà yếu đi nhiều. Nhưng bà vẫn tiếp tục ở lại trạm quân y. Cho đến mùa xuân năm 1975.

Ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, cả đơn vị ôm nhau khóc giữa rừng đước. Có người cười, có người gọi tên những đồng đội đã nằm lại.

Ánh im lặng rất lâu. Rồi bà nhìn lên bầu trời. – Hòa bình rồi.

Chỉ bốn chữ. Nhưng bà đã đợi cả tuổi thanh xuân để nói ra.

Sau chiến tranh, nhiều người nghĩ bà Ánh sẽ rời quê lên thành phố học tiếp ngành y như ước mơ thuở nhỏ. Nhưng bà ở lại.

Bà mở một phòng khám nhỏ ngay tại quê nhà. Không biển hiệu sang trọng. Không máy móc hiện đại. Chỉ có chiếc bàn gỗ cũ, vài lọ thuốc và một người bác sĩ luôn xem mạng sống con người là điều quý giá nhất.

Người nghèo đến khám, bà thường không lấy tiền. Có cụ già mang rổ khoai, bó rau đến thay viện phí. Bà đều nhận với nụ cười hiền. – Bệnh khỏi là được rồi.

Bà ngoại tôi kể rằng, suốt cuộc đời mình, bà Ánh gần như chưa từng sống cho riêng bản thân. Bà không lấy chồng.

Có người hỏi: – Bà không thấy tiếc tuổi xuân sao?

Ánh chỉ cười nhẹ: – Tôi đã có một tuổi xuân rất đẹp rồi. Đó là tuổi xuân được sống vì người khác.

Năm tôi mười ba tuổi, bà Ánh mất. Hôm tang lễ, rất đông người đến tiễn bà.

Có những cựu chiến binh tóc bạc trắng chống gậy đứng lặng hàng giờ trước di ảnh. Có những người dân nghèo từ tận huyện xa chạy xe đến chỉ để thắp cho bà nén nhang.

Một người đàn ông trung niên đặt trước linh cữu bà bó hoa trắng. Ông là Luân. Người lính năm xưa được bà cứu sống.

Ông khóc. Một người đàn ông từng đi qua chiến tranh, từng đối mặt cái chết mà vẫn khóc như một đứa trẻ.

Ông nói: – Cô Ánh không chỉ cứu mạng tôi. Cô ấy cứu cả gia đình tôi. Nếu ngày đó tôi chết, chắc gì con tôi được sinh ra, chắc gì hôm nay tôi còn được nhìn thấy đất nước hòa bình.

Tôi đứng giữa dòng người hôm ấy, lần đầu tiên hiểu rằng có những con người tuy lặng lẽ nhưng cuộc đời họ lại trở thành ánh sáng cho biết bao số phận khác.

Bây giờ, chiến tranh đã lùi xa. Thế hệ chúng tôi lớn lên trong hòa bình, quen với ánh đèn điện sáng trưng, với những con đường không còn tiếng bom rơi. Chúng tôi học lịch sử qua sách vở, qua những con số và mốc thời gian.

Nhưng chỉ khi nghe những câu chuyện như của bà Ánh, tôi mới hiểu lịch sử không hề khô khan. Lịch sử là máu, là nước mắt, là tuổi trẻ của biết bao con người đã âm thầm cháy lên như ngọn lửa để giữ lấy hòa bình hôm nay.

Có người từng hỏi tôi: – Điều gì khiến thế hệ trẻ cần phải nhớ về chiến tranh khi đất nước đã hòa bình?

Tôi nghĩ rất lâu. Rồi nhớ đến ngọn đèn dầu của bà ngoại. Ngọn lửa ấy nhỏ bé nhưng chưa bao giờ tắt. Cũng giống như ký ức về những con người thời hoa lửa.

Nếu một ngày chúng ta quên đi những hy sinh ấy, lịch sử sẽ chỉ còn là những dòng chữ vô cảm. Nhưng nếu còn người kể, còn người lắng nghe, thì những ngọn lửa năm xưa sẽ mãi sống.

Đề án “Câu chuyện thời hoa lửa” không đơn thuần là hành trình tìm lại quá khứ. Đó là hành trình để thế hệ hôm nay học cách biết ơn. Biết ơn những người đã gửi tuổi thanh xuân vào chiến tranh để đổi lấy hòa bình. Biết ơn những người như bà Ánh – những con người bình dị nhưng đã sống một cuộc đời phi thường.

Tôi tin rằng, trong mỗi vùng quê Việt Nam đều có những “ngọn đèn không tắt” như thế. Có thể họ không xuất hiện trên truyền hình. Có thể tên họ không nằm trong những trang sử lớn. Nhưng chính họ đã âm thầm giữ cho đất nước này đứng vững qua những năm tháng đau thương nhất.

Và trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay không phải chỉ là nhớ. Mà còn phải sống sao cho xứng đáng. Sống tử tế hơn. Sống có trách nhiệm hơn. Sống để những hy sinh năm xưa không trở nên vô nghĩa.

Đêm nay, ngoài trời lại mưa. Tôi ngồi bên bàn học, nhìn ngọn đèn nhỏ lập lòe trong góc phòng. Bất giác tôi nhớ đến bà Ánh. Nhớ cô gái mười chín tuổi năm nào đã bước vào chiến tranh bằng trái tim của một người yêu sự sống.

Có những con người khi mất đi vẫn để lại ánh sáng. Và có những câu chuyện dù thời gian trôi qua bao lâu vẫn khiến trái tim người ta thổn thức.

Câu chuyện của bà Ánh là một câu chuyện như thế. Một câu chuyện của thời hoa lửa. Một ngọn đèn không bao giờ tắt.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn