Bài viết

NGỌN ĐÈN TRONG BÃO LỬA NGUYỄN THỊ TƯ

Không chỉ hiến con, Bà còn hiến cả ngôi nhà của mình cho cách mạng: Là nơi giấu cán bộ Là trạm giao liên Là nơi cứu thương Là bếp nuôi bộ đội Dưới nền bếp, có một hầm bí mật. Phía trên bếp, bà vẫn nhóm lửa bình thản mỗi khi địch lục soát. Sự sống và cái chết chỉ cách nhau một tấm ván. Ngày đất nước hòa bình, cả làng vui mừng, riêng bà đứng lặng trước ngôi nhà trống vắng. Không còn tiếng gọi “má ơi”. Bà được phong tặng danh hiệu “BÀ MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG” Bằng danh dự đặt cạnh năm di ảnh n

Đà Nẵng25/12/2025CHI ĐOÀN TRƯỜNG ĐỖ THÚC TỊNH (XÃ HÒATIẾN)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

NGỌN ĐÈN TRONG BÃO LỬA

NGUYỄN THỊ TƯ

Chân dung một Bà mẹ Việt Nam Anh hùng – Thời hoa lửa

Gặp lại Người trong bức ảnh “Giọt sữa cuối cùng”

Bức ảnh của Larry Brows đăng trên tạp chí TeleGraph

Nguyễn Thị Tư (1927–1998)- một người mẹ quê bình dị, nhưng đã trở thành biểu tượng bất tử của thời hoa lửa.

Bà sinh ra, lớn lên và già đi trên một làng quê miền Trung đầy nắng gió. Chồng mất sớm trong kháng chiến. Một mình bà nuôi năm người con trai khôn lớn giữa đói nghèo và bom đạn

Khi Tổ quốc gọi, cả năm người con lần lượt ra trận.

Và lần lượt:

- Người hy sinh ở chiến trường,

- Người ngã xuống trong trận càn,

- Người mất trong hầm bí mật,

- Người trúng bom khi làm giao liên,

- Người con út hy sinh ngay trước ngày đất nước toàn thắng.

Năm người con- không một ai trở về.

Không chỉ hiến con, Bà còn hiến cả ngôi nhà của mình cho cách mạng:

Là nơi giấu cán bộ

Là trạm giao liên

Là nơi cứu thương

Là bếp nuôi bộ đội

Dưới nền bếp, có một hầm bí mật. Phía trên bếp, bà vẫn nhóm lửa bình thản mỗi khi địch lục soát. Sự sống và cái chết chỉ cách nhau một tấm ván.

Ngày đất nước hòa bình, cả làng vui mừng, riêng bà đứng lặng trước ngôi nhà trống vắng. Không còn tiếng gọi “má ơi”.

Bà được phong tặng danh hiệu “BÀ MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG”

Bằng danh dự đặt cạnh năm di ảnh người con liệt sĩ.

Những năm cuối đời, bà sống lặng lẽ. Ngọn đèn trên bàn thờ chưa từng tắt. Trong giấc ngủ chập chờn, bà vẫn gọi tên từng đứa con.

Ngày bà qua đời, người làng tiễn đưa bà bằng tất cả sự kính trọng.
Người mẹ ấy ra đi - mang theo một thời hoa lửa khép lại.

Nguyễn Thị Tư -Người mẹ không cầm súng, nhưng đã dâng hiến trọn vẹn những gì quý giá nhất cho Tổ quốc.

MẢNH ĐẤT SINH RA NGƯỜI MẸ ANH HÙNG

Làng tôi nằm sát biển, cát trắng trải dài hun hút. Mùa hè gió Lào thổi tới rát da, mùa mưa bão, nước dâng lên mặn chát từng bờ tre. Ở mảnh đất khắc nghiệt ấy, người phụ nữ tên Nguyễn Thị Tư sinh ra, lớn lên, lấy chồng, sinh con, rồi cũng chính tại đây, Bà tiễn hết những người ruột thịt nhất của đời mình ra đi vì Tổ quốc.

Bà Tư không học cao. Cả đời bà gắn với:

Bếp lửa rơm

Đòn gánh mòn vai

Gánh cá khô mặn mòi

Và những đêm dài thức trắng chờ con trong bom đạn.

Chồng bà là du kích, hy sinh ngay sau Hiệp định Giơ-ne-vơ. Khi ấy, bà mới ngoài ba mươi, bụng mang dạ chửa đứa con thứ năm. Từ ngày đó, bà trở thành trụ cột duy nhất của một gia đình không đàn ông.

Người trong làng thường nói:

“Nhà bà Tư nghèo tới nỗi, gió lùa cũng phải xin phép”.

Vậy mà trong căn nhà nghèo ấy lại cháy lên một ngọn lửa không bao giờ tắt - ngọn lửa của lòng yêu nước.

TUỔI THƠ CỦA NHỮNG NGƯỜI CON TRONG KHÓI LỬA

Năm người con trai lớn lên trong thiếu thốn, nhưng không bao giờ thiếu lòng thương yêu của mẹ. Những ngày mưa bão, nước tạt qua mái lá, bà lấy thân mình chắn gió cho con ngủ. Những bữa đói, bà nhường phần cháo loãng cho con, còn mình chỉ uống nước lã cầm hơi.

Đêm đêm, bà hay kể chuyện quê hương bị giặc giày xéo, kể chuyện cha chúng hy sinh, kể chuyện những người đi trước ra trận. Những câu chuyện ấy ngấm dần vào từng giấc ngủ, từng hơi thở của những đứa trẻ.

Và rồi, chiến tranh thật sự ập xuống làng.

LẦN TIỄN CON ĐẦU TIÊN- TIỄN ĐI CẢ MỘT PHẦN SỰ SỐNG

Năm người con, người ra đi đầu tiên là Anh Ba.

Đêm anh đi, mưa rơi như trút. Đèn dầu leo lét trước bàn thờ cha. Anh lạy cha ba lạy, rồi quay sang nhìn mẹ. Bà không dám nhìn con lâu, vì sợ nước mắt mình khiến con yếu lòng. Bà lẳng lặng nhét vào ba lô gói cơm, mấy trái ớt khô.

Anh đi khuất bóng. Bà đứng lặng rất lâu trong bóng tối, cho đến khi tiếng mưa át hẳn tiếng bước chân cuối cùng.

Ba tháng sau, giấy báo tử về.

Bà ngồi im, tay run run cầm tờ giấy. Tiếng gió ngoài biển gào như xé ruột. Cả đêm đó, bếp nhà bà đỏ lửa- không phải để nấu cơm, mà để bà ngồi khóc bên bếp tro cho ấm, sợ trái tim mình lạnh đi vì nỗi đau.

BỐN NGƯỜI CON- BỐN CON ĐƯỜNG RA TRẬN

Sau người anh cả, từng người em lần lượt nối gót:

Người làm giao liên, gùi hàng trong rừng sâu.

Người vào bộ đội chủ lực, hành quân từ miền Trung vào Nam.

Người ở lại du kích địa phương, ngày đào hầm, đêm phục kích.

Bà tiễn con bằng những bữa cơm thật khẽ. Không ai dám ăn no, vì sợ đó là bữa cơm cuối.

Mỗi lần con đi, bà đều:

Thắp hương cho cha,

Lau từng bức ảnh trên bàn thờ,

Và lặng lẽ gài lại cửa như thể chỉ lát nữa thôi các con sẽ quay về.

Nhưng các con cứ đi - mà không trở lại.

Từng cái chết đến như sét đánh:

Người trúng mìn

Người ngã trong trận càn

Người hy sinh trong hầm bí mật bị lộ

Có ngày, bà nhận hai giấy báo tử trong cùng một năm

Người ta sợ bà không chịu nổi. Nhưng bà không chết - bà cắn răng sống tiếp, như thể sống là trách nhiệm cuối cùng dành cho những đứa con đã mất.

NGÔI NHÀ BIẾN THÀNH PHÁO ĐÀI THẦM LẶNG

Sau khi mất ba người con, bà Tư trở thành cơ sở cách mạng quan trọng của xã. Nhà bà:

Là nơi giấu thương binh

Là kho lương khô

Là trạm trung chuyển công văn

Hầm bí mật ngay dưới bếp. Mỗi lần địch đến, bà bình thản nhóm lửa, nấu nước, giả vờ như một bà già vô hại. Nhưng phía dưới chân bà, có khi là ba - bốn cán bộ đang nín thở chờ giặc rút.

Có lần, một tên lính giẫm đúng lên nắp hầm. Bà bất ngờ làm đổ nồi nước sôi, nước tràn ra bỏng chân hắn. Trong lúc hắn la hét, đồng bọn hoảng loạn sơ cứu, không ai kịp phát hiện hầm bí mật.

Sau đợt đó, bà ngã bệnh, sốt li bì nhiều ngày. Nhưng tỉnh dậy, việc đầu tiên bà hỏi là:

“Tụi nhỏ an toàn không?”

NGƯỜI CON ÚT- NIỀM HY VỌNG CUỐI CÙNG

Người con út là niềm an ủi duy nhất còn lại. Bà giấu nỗi sợ, không dám nói nhiều về chiến tranh trước mặt con. Nhưng rồi, chiến tranh không chừa lại cho bà điều gì.

Ngày con út khoác áo lính, tay bà run tới mức không gài nổi chiếc cúc áo cho con. Bà cắn môi đến bật máu để khỏi khóc.

Bà nói:

“Đi thì đi, nhưng phải sống mà về. Má không còn ai nữa đâu con…”

Người con út gật đầu. Đó là lần cuối hai mẹ con nhìn thấy nhau

NGÀY ĐẤT NƯỚC TOÀN THẮNG - NGƯỜI MẸ TRẮNG TAY

Mùa xuân 1975, cả làng đổ ra đường mừng chiến thắng. Cờ đỏ rợp trời. Người người ôm nhau khóc vì hạnh phúc.

Riêng bà Tư, đứng một mình trước thềm nhà, lưng còng xuống hẳn. Ngày vui của cả dân tộc, mà trong lòng bà là một khoảng trống không gì bù đắp được.

Ít lâu sau, giấy báo tử người con út về.

Năm người con trai - năm nấm mồ gió - năm bức ảnh trên bàn thờ.

Bà thắp sáu nén hương:

Một cho chồng

Năm cho con

Khói hương quyện vào mái tranh cũ kỹ. Người mẹ anh hùng ngất lịm giữa gian nhà trống.

MỘT DANH HIỆU - TRIỆU LẦN ĐAU XÓT

Nhiều năm sau, bà được phong tặng Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Làng treo băng đỏ, cán bộ về trao bằng. Nhưng bà không cười. Bà run run đặt tấm bằng cạnh bàn thờ:

“Tui đổi năm mạng người thân lấy cái bằng này sao?”

Không ai dám trả lời.

Danh hiệu là vinh quang của Tổ quốc. Nhưng với một người mẹ, đó là công nhận cho nỗi đau không gì bù đắp nổi.

NHỮNG NĂM THÁNG CUỐI ĐỜI - CHỜ CON TRONG IM LẶNG

Tuổi già của bà là chuỗi ngày lặng lẽ. Mỗi chiều, bà ngồi trước hiên, mắt dõi ra con đường làng. Ngọn đèn dầu trên bàn thờ chưa bao giờ tắt.

Trong giấc ngủ chập chờn, bà vẫn gọi:

“Thằng Ba về đó hả con?”

“Bữa ni mấy đứa có đói không?”

Con cháu trong làng thay nhau chăm sóc bà. Nhưng trong sâu thẳm, bà lúc nào cũng cô đơn - vì bầu trời của bà đã không còn bóng dáng những đứa con trai.

NGỌN ĐÈN THỜI HOA LỬA

Ngày bà mất, trời lặng gió. Ngọn đèn trên bàn thờ tắt đúng lúc máy thở ngừng chạy. Người ta bảo:

“Bà đi gặp lại chồng con rồi.”

Bàn thờ bà trở thành nơi để cả làng thắp hương mỗi dịp 27/7, 30/4. Trẻ con trong làng được dạy:

“Muốn biết chiến tranh tàn khốc tới đâu, hãy nhìn vào một người mẹ.”

MẸ LÀ TỔ QUỐC

Những Bà mẹ Việt Nam Anh hùng không viết sử bằng mực, mà bằng:

Nước mắt

Máu thịt con mình

Và cả cuộc đời lặng lẽ phía sau hai chữ “hòa bình”.

Bà Nguyễn Thị Tư ra đi trong lặng lẽ, như cách bà đã sống cả một đời. Không tiếng súng, không khói lửa, chỉ có ngọn đèn dầu trước bàn thờ khẽ tắt trong một buổi chiều yên gió. Nhưng sự ra đi ấy không phải là kết thúc. Bởi từ giây phút ấy, bà đã ở lại mãi trong ký ức của quê hương, trong lòng dân tộc - như một người mẹ của đất nước.

Năm người con, một người chồng, cả tuổi xuân và cả cuộc đời - bà đã dâng hiến trọn vẹn cho Tổ quốc mà không một lần đòi lại cho riêng mình. Sự hy sinh ấy không ồn ào, không vang động như tiếng súng ngoài chiến trường, nhưng lặng lẽ, sâu thẳm và bền bỉ như mạch ngầm nuôi sống cả một thời đại.

Hôm nay, khi chúng ta được sống trong hòa bình, được học tập, mơ ước và bước đi trên những con đường không còn bom đạn, xin hãy cúi đầu trước chân dung người mẹ ấy. Bởi mỗi bước bình yên ta đang đi qua đều có bóng dáng của những người mẹ như bà Nguyễn Thị Tư

Thời hoa lửa đã lùi xa, nhưng ngọn lửa trong lòng người mẹ ấy thì không bao giờ tắt. Nó đang cháy âm ỉ trong từng ngày yên bình hôm nay, nhắc chúng ta sống sao cho xứng đáng.

Nó cháy trong ký ức.

Cháy trong lòng biết ơn.

Và cháy mãi trong trái tim các thế hệ mai sau.

***HẾT***

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn