NGỌN ĐÈN TRONG ĐÊM
“Năm 1953, tôi là chiến sĩ liên lạc của đơn vị. Nhiệm vụ của tôi là mang mệnh lệnh từ sở chỉ huy đến các đại đội đang đóng quân trong rừng. Bây giờ nghe thì có vẻ đơn giản, nhưng hồi đó mỗi chuyến đi đều có thể là chuyến đi cuối cùng.
TÊN TÁC PHẨM: CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA
NGỌN ĐÈN TRONG ĐÊM
Tác giả:Vũ Thị Thuỳ Đoàn viên chi đoàn Hoàng Tiến
Đồng tác giả: Ban thường vụ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã Hải Châu
Thông tin nhân vật
-Họ tên nhân vật: Đỗ Văn Quyết
-Năm Sinh:1949
-Quê quán: Xã Hải Châu, Tỉnh Nghệ An
Tên câu chuyện: Ngọn Đèn Trong Đêm
“Năm 1953, tôi là chiến sĩ liên lạc của đơn vị. Nhiệm vụ của tôi là mang mệnh lệnh từ sở chỉ huy đến các đại đội đang đóng quân trong rừng. Bây giờ nghe thì có vẻ đơn giản, nhưng hồi đó mỗi chuyến đi đều có thể là chuyến đi cuối cùng.
Một buổi chiều, đơn vị nhận được lệnh phải chuyển gấp một bức điện đến mũi tiến công ở phía bên kia cánh rừng. Nếu chậm vài giờ thôi thì kế hoạch tác chiến có thể bị ảnh hưởng. Tôi cùng một đồng đội tên Hải được giao nhiệm vụ lên đường ngay trong đêm.
Trời tối rất nhanh. Mưa lất phất, đường rừng trơn như đổ mỡ. Chúng tôi không được dùng đèn pin vì sợ quân Pháp phát hiện, chỉ men theo những dấu cây đã được trinh sát đánh dấu từ trước.
Đi được gần hai tiếng thì đến một con suối lớn. Ban ngày còn có thể nhìn thấy đường, nhưng ban đêm nước đen kịt, chảy rất mạnh. Chúng tôi phải lần từng bước một, bám vào rễ cây để sang bờ bên kia.
Qua khỏi con suối, Hải bất ngờ trượt chân ngã xuống một hố đất. May là hố không sâu, nhưng cổ chân anh bị bong gân, đi rất khó khăn. Tôi bảo để tôi đi một mình cho kịp giờ, nhưng anh lắc đầu.
Anh nói: ‘Hai người đi thì còn giúp được nhau. Một mình lỡ gặp chuyện thì chẳng biết xoay xở thế nào.’
Thế là chúng tôi dìu nhau đi tiếp. Có đoạn tôi cõng anh, có đoạn anh cố chống gậy tự bước. Dù rất mệt nhưng cả hai đều không dám nghỉ lâu vì sợ không kịp giao mệnh lệnh.
Gần nửa đêm, từ xa chúng tôi nhìn thấy một ánh đèn dầu rất nhỏ được che kín bằng tấm vải. Đó là tín hiệu của đơn vị nhận tin. Nhìn thấy ánh đèn ấy, cả hai đều mừng đến mức quên cả mệt.
Chúng tôi trao bức điện cho người chỉ huy rồi mới ngồi xuống thở. Chỉ vài phút sau, cả đơn vị bắt đầu chuẩn bị theo mệnh lệnh mới.
Sáng hôm sau, chúng tôi mới biết nhờ bức điện được chuyển đến đúng lúc mà đơn vị đã kịp thay đổi hướng hành quân, tránh được một cuộc phục kích của quân Pháp.
Khi quay về, anh em trong đơn vị hỏi đùa:
‘Hai cậu đi cả đêm có sợ không?’
Hải cười rồi đáp:
‘Có chứ. Ai mà chẳng sợ. Nhưng nhiệm vụ thì vẫn phải làm.’
Câu nói ấy tôi nhớ đến tận bây giờ.
Những tháng sau đó, tôi còn thực hiện rất nhiều chuyến liên lạc khác. Có đêm đi từ chập tối đến gần sáng mới về. Có hôm vừa đến nơi thì mưa lớn, phải trú dưới gốc cây hàng giờ. Có lần suýt gặp toán lính địch đi tuần, hai anh em phải nằm im dưới bụi rậm đến khi trời gần sáng mới dám tiếp tục.
Chiến tranh kết thúc, tôi trở về quê làm nông. Cuộc sống dần yên bình, nhưng mỗi khi nhìn thấy ngọn đèn dầu trên bàn thờ hay ánh đèn le lói trong đêm, tôi lại nhớ đến chuyến đi năm ấy.
Với nhiều người, đó chỉ là một ngọn đèn rất nhỏ giữa rừng. Nhưng với chúng tôi, nó là dấu hiệu của hy vọng, là nơi có đồng đội đang chờ, là đích đến sau nhiều giờ băng rừng vượt suối trong bóng tối.
Sau này, tôi có dịp gặp lại Hải trong một buổi họp mặt cựu chiến binh. Cả hai đều đã tóc bạc. Chúng tôi nhắc lại chuyến đi năm xưa rồi cùng cười. Hải bảo:
‘Ngày đó mình chỉ nghĩ làm sao giao được mệnh lệnh đúng giờ. Không ngờ sau này lại trở thành một kỷ niệm nhớ cả đời.’
Tôi gật đầu. Chiến tranh đã qua từ lâu, nhưng có những hình ảnh không bao giờ phai trong ký ức: con đường rừng ướt mưa, tiếng nước suối chảy giữa đêm, bàn tay đồng đội nắm lấy nhau lúc khó khăn, và ngọn đèn nhỏ le lói giữa màn đêm báo rằng chúng tôi đã đến nơi an toàn.
Người ta thường nhớ đến chiến thắng bằng những trận đánh lớn. Còn tôi, điều tôi nhớ nhất lại là những chuyến đi âm thầm trong đêm. Chính những người lính liên lạc, những người vận tải, những người mở đường… đã góp phần nối liền các đơn vị, để mọi mệnh lệnh được truyền đi đúng lúc và để chiến thắng cuối cùng trở thành hiện thực.”
.Tác giả
Vũ Thị Thuỳ



