Ngọn đuốc không bao giờ tắt
Lương Ngọc Quyến (1745–1792) là vị anh hùng dân tộc người Tày, sinh tại Định Hóa, Thái Nguyên. Ông cùng anh trai khởi nghĩa chống quân Thanh và bọn phản nghịch, đoàn kết các dân tộc dùng chiến thuật địa hình đánh tan nhiều đợt địch ở Nà Rậu, sông Cầu, Vạn An. Bị phản bội bắt giữ, ông kiên quyết không khuất phục, hy sinh oanh liệt, trở thành biểu tượng sáng ngời của lòng yêu nước và khối đại đoàn kết dân tộc miền núi.

Lương Ngọc Quyến sinh năm 1745, tại thôn Nà Phặc, xã Bình Thành, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên, trong một gia tộc người Tày có truyền thống giữ rừng bảo cõi từ nhiều đời. Cha ông là Lương Ngọc Cầm, một thổ ty uy tín, luôn chăm lo đời sống nhân dân và giữ mối đoàn kết giữa các dân tộc trên mảnh đất này.
Từ nhỏ, Lương Ngọc Quyến đã cùng anh trai Lương Ngọc Nhị luyện võ, học binh pháp và thuộc như lòng bàn tay từng lối đi, từng ngọn núi, con suối trên quê hương. Ông nổi tiếng là người khỏe mạnh, thông minh, lại có tấm lòng nhân hậu, hay giúp đỡ người nghèo nên được đồng bào các dân tộc Tày, Nùng, Kinh, Mường vô cùng kính trọng.
Năm 1789, sau khi vua Quang Trung đại phá quân Thanh ở Ngọc Hồi – Đống Đa, phần lớn quân giặc rút chạy về nước, nhưng một toán quân Thanh và bọn phản nghịch vẫn lẩn quẩn vùng trung du miền núi Bắc Bộ, quấy phá, cướp bóc và đàn áp nhân dân. Trước cảnh nước nhà còn chưa yên, đồng bào còn chịu đau khổ, năm 1790, Lương Ngọc Quyến cùng anh trai Lương Ngọc Nhị kêu gọi nhân dân các dân tộc đứng lên khởi nghĩa. Chỉ trong vòng vài tháng, nghĩa quân đã có hơn 3.000 người, với vũ khí phần lớn là giáo mác, cung tên, đinh ba và các loại vũ khí tự chế. Ông chọn vùng núi Vạn An, Định Hóa làm căn cứ chính để xây dựng lực lượng.
Trận đánh đồn Nà Rậu (năm 1790). Đây là trận thắng đầu tiên làm rung chuyển thế lực giặc. Đồn Nà Rậu là căn cứ quan trọng của quân giặc, nằm ở cửa ngõ vào trung tâm Thái Nguyên, có tường thành kiên cố và hơn 500 lính canh giữ. Lương Ngọc Quyến chia quân làm ba mũi: một đội giả đánh để dụ địch ra ngoài, hai đội khác phục kích hai bên sườn núi. Khi giặc xông ra đuổi theo, nghĩa quân lập tức chặn đầu cắt đuôi, tấn công đột ngột. Toàn bộ đồn Nà Rậu bị phá tan, hơn 300 quân giặc bị tiêu diệt, nghĩa quân thu được rất nhiều vũ khí, lương thực. Đây là thắng lợi tạo dựng thanh thế lớn cho nghĩa quân.
Trận phục kích sông Cầu (cuối năm 1790). Quân giặc sau khi thất bại, tập hợp hơn 2.000 người từ Việt Trì, Phú Thọ kéo xuống, định vây quét căn cứ Định Hóa. Lương Ngọc Quyến đoán định đường đi của địch, chọn đoạn sông Cầu ở khúc quanh co, hai bên là rừng rậm rậm để đặt phục kích. Ông cho một đội quân nhỏ giả làm dân chài, khi thuyền địch đi qua thì khiêu khích rồi chạy vào bờ. Quân giặc nổi giận, lũ lượt đổ bộ lên, vừa bước vào rừng thì mưa tên, đá lớn và giáo mác đổ xuống. Trận đánh kéo dài nửa ngày, hơn một nghìn quân giặc bị tiêu diệt, số còn lại hoảng sợ bỏ chạy không dám quay lại trong một thời gian dài.
Trận giữ căn cứ Vạn An (đầu năm 1791). Giặc tức giận, liên minh với bọn địa chủ phản nghịch, huy động hơn 4.000 quân chia ba đường tấn công căn cứ chính Vạn An. Lương Ngọc Quyến không đối đầu trực diện với lực lượng đông gấp nhiều lần, mà dùng chiến thuật chia nhỏ đội ngũ, đánh ban đêm, đốt trại, cắt đường vận chuyển lương thực. Suốt một tháng trời, quân giặc luôn trong tình trạng bị tấn công bất ngờ, không thể nghỉ ngơi, lương thực cạn kiệt, cuối cùng phải rút lui trong thất bại. Sau trận này, thế lực của nghĩa quân bao trùm cả vùng Thái Nguyên, Bắc Kạn và một phần Tuyên Quang.
Không thể thắng bằng binh lực, quân giặc dùng thủ đoạn đê tiện: đút lót, dụ dỗ một số kẻ lòng dạ xấu xa trong nội bộ nghĩa quân. Một đêm mưa to gió lớn, ngày 19 tháng 4 năm 1792, kẻ phản bội đã mở cổng bí mật, chỉ đường cho quân giặc lẻn vào vây hãm căn cứ.
Dù bị bất ngờ và đông gấp hàng chục lần, Lương Ngọc Quyến vẫn bình tĩnh chỉ huy chiến đấu. Ông cầm đao xông pha ở tuyến đầu, đánh lui nhiều đợt tấn công của địch. Khi anh em bên cạnh lần lượt hy sinh, bản thân ông bị thương nặng, kiệt sức nên bị giặc bắt sống.
Quân giặc dùng đủ mọi cách dụ dỗ, hứa phong cho ông làm quan to, cai quản cả vùng miền núi nếu chịu đầu hàng. Nhưng Lương Ngọc Quyến ngẩng cao đầu đáp:
“Tôi là người con đất Việt, chỉ biết trung với nước, ái với dân. Đời này chỉ có chết chứ không bao giờ làm kẻ tôi tớ giặc!”
Không thể lay chuyển được ông, quân giặc đã hành hình Lương Ngọc Quyến ngay trên đất quê nhà, khi ông vừa tròn 47 tuổi. Anh trai ông, Lương Ngọc Nhị cũng hy sinh trong cùng đợt đó.
Người dân Thái Nguyên đã lén lấy thi hài ông mai táng trên núi Vạn An, và xây miếu thờ ngay nơi ông từng đóng quân. Đến ngày nay, tên tuổi Lương Ngọc Quyến vẫn là niềm tự hào của đồng bào các dân tộc Thái Nguyên, là biểu tượng sáng ngời của lòng yêu nước, ý chí kiên cường và tình đoàn kết dân tộc.


