Bài viết

“NGỌN ĐUỐC SỐNG GIỮA PHÁO ĐÀI ĐIỆN BIÊN”

Võ Nguyên Giáp – Trí tuệ thép và ý chí của một dân tộc

Thái Nguyên16/06/2026Lê Thị Ngọc Linh (Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong hành trình đấu tranh giành độc lập của dân tộc Việt Nam, có những con người không chỉ cầm súng ra trận mà còn cầm cả vận mệnh Tổ quốc trên vai. Võ Nguyên Giáp – người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh – chính là biểu tượng của trí tuệ, bản lĩnh và ý chí kiên cường ấy. Sinh năm 1911 tại vùng quê giàu truyền thống yêu nước Quảng Bình, Võ Nguyên Giáp sớm chứng kiến cảnh nước mất, nhà tan dưới ách đô hộ của thực dân. Người thân của ông từng bị bắt bớ, tù đày. Những mất mát ấy đã hun đúc trong lòng chàng thanh niên trẻ một quyết tâm cháy bỏng: phải giành lại độc lập cho dân tộc. Từng là thầy giáo dạy môn Lịch sử, ông hiểu sâu sắc quy luật của chiến tranh và bài học từ các cuộc cách mạng trên thế giới. Khi tham gia hoạt động cách mạng, ông nhanh chóng bộc lộ tư duy chiến lược sắc bén. Năm 1944, ông được giao thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân – tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam. Từ những ngày đầu với lực lượng ít ỏi và vũ khí thô sơ, Võ Nguyên Giáp đã xây dựng nên một quân đội “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu”. Dưới sự chỉ huy của ông, quân đội ta trưởng thành qua từng trận đánh, từng chiến dịch lớn nhỏ. Đỉnh cao chói lọi trong sự nghiệp cầm quân của ông là Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Trước một tập đoàn cứ điểm mạnh bậc nhất Đông Dương, được phương Tây coi là “pháo đài bất khả xâm phạm”, ông đã đưa ra quyết định lịch sử: chuyển từ phương châm “đánh nhanh thắng nhanh” sang “đánh chắc tiến chắc”. Bộ Chỉ huy Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 bàn kế hoạch tác chiến dưới sự chỉ đạo của Đại tướng, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp (áo đen). (Ảnh tư liệu)Quyết định ấy thể hiện tầm nhìn chiến lược và sự trân trọng sinh mạng chiến sĩ. Sau 56 ngày đêm “khoét núi ngủ hầm, mưa dầm cơm vắt”, quân và dân ta đã làm nên chiến thắng vang dội, buộc Pháp phải ký Hiệp định Genève, chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương. Không chỉ là một vị tướng tài ba, Võ Nguyên Giáp còn là người giàu lòng nhân hậu, luôn trăn trở về tổn thất của chiến tranh. Ông nhiều lần nhấn mạnh rằng chiến thắng lớn nhất chính là giữ được lòng dân và bảo toàn lực lượng. Năm 1948, ông được phong quân hàm Đại tướng khi mới 37 tuổi – vị Đại tướng trẻ nhất lúc bấy giờ. Cuộc đời ông gắn liền với những chặng đường cam go của dân tộc, từ kháng chiến chống Pháp đến chống Mỹ và công cuộc xây dựng đất nước sau hòa bình. Sắc lệnh số 110-SL ngày 20/1/1948 của Chủ tịch Chính phủ Hồ Chí Minh phong quân hàm Đại tướng cho ông Võ Nguyên Giáp - Tổng chỉ huy quân đội quốc gia và dân quân tự vệ. (Ảnh tư liệu) Ngày nay, khi nhắc đến Võ Nguyên Giáp, người ta không chỉ nhớ đến một thiên tài quân sự được bạn bè quốc tế kính trọng, mà còn nhớ đến một con người giản dị, khiêm nhường, suốt đời tận trung với nước, tận hiếu với dân. Hình ảnh “vị tướng của nhân dân” ấy sẽ mãi là biểu tượng bất diệt của trí tuệ Việt Nam và ý chí quật cường của cả một dân tộc./-strong/-heart:>:o:-(

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn