Bài viết

NGỌN ĐUỐC VÀ TIẾNG SÚNG

Đà Nẵng08/07/2026Lương Hoàng Bảo Trân (THPT Nguyễn Văn Thoại)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong dòng chảy lịch sử đầy bão giông của dân tộc, có những thời khắc mà ranh giới giữa bình thường và vĩ đại bỗng chốc nhòa đi, nhường chỗ cho ý chí sắt đá của cả một quần thể nhân dân. Đêm Ba mươi, rạng mồng Một Tết Mậu Thân 1968 tại mảnh đất cánh Bắc Hòa Vang chính là một lát cắt bất tử như thế. Đó không chỉ là một cuộc tiến công quân sự thuần túy, mà là thời điểm lòng yêu nước âm ỉ trong mỗi nếp nhà làng Kim Liên bùng cháy thành ngọn đuốc rực trời, một cuộc xuống đường lịch sử mang tầm vóc của một bản hùng ca.

Ngược dòng thời gian về những năm tháng gian lao ấy, căn cứ Khe Lớn nơi núi Hòn Quắp hiểm trở từng là cái nôi che chở cho những người con cách mạng thuộc Khu I - Hòa Vang. Từ đỉnh ngọn núi có hình thế đá nhô ra đầy đặc biệt này, những chủ trương, đường lối giành độc lập đã được gieo mầm. Công tác binh vận, tuyên truyền không quản ngại đồn bốt địch bủa vây đã đánh thức tinh thần tự tôn của người dân xứ biển. Đối với người dân Kim Liên, niềm căm ghét ách áp bức của Mỹ ngụy đã như dòng hải lưu cuộn chảy trong máu; họ chỉ chờ một luồng gió quyết chiến để cùng nhau nổi sóng.

Và luồng gió ấy đã đến vào mùa xuân năm 1968.

Đêm ba mươi Tết, khi bóng tối còn đặc quánh, một lực lượng hỗn hợp gồm gần một trăm cán bộ Khu ủy, du kích xã Hòa Hiệp cùng chiến sĩ K700 đã bí mật áp sát vùng giáp ranh. Phối hợp với cánh quân chủ lực đang ém sẵn tại Nam Ô, tất cả tạo thành thế gọng kìm sẵn sàng siết chặt. Đúng bốn giờ sáng, lệnh tổng khởi nghĩa phát ra, cả làng Kim Liên rầm rập chuyển mình. Bầu không khí sục sôi, náo nức ấy khiến người ta dễ dàng liên tưởng đến hào khí long trời lở đất của Cách mạng tháng Tám năm xưa. Đi đầu đoàn biểu tình không phải là những binh đoàn giáp sắt, mà là hình ảnh vĩ đại của bà Nguyễn Thị Lan – một cụ già đã ở tuổi bảy mươi hai, tay cầm dao lở, tay nâng đèn bóng, cất tiếng hô lay động tâm can: “Bà con ơi! Mau tham gia xuống đường giành quyền lợi cho nhân dân!”. Tiếng gọi ấy có sức lay động vạn vật, kéo theo hơn năm trăm con người từ xóm 4, xóm 3, xóm giữa đến xóm Vạn bỏ lại sau lưng nhà cửa, cùng nhau bước vào trận tuyến.

Cái hay, cái khéo của thế trận lòng dân nằm ở sự mưu trí tuyệt vời. Để che mắt kẻ thù, những chiến sĩ du kích đã khoác lên mình chiếc áo dài, khăn đóng trang nghiêm hay tấm áo blouse trắng do chính bà con cho mượn. Vũ khí, lựu đạn được giấu kín dưới những lớp vải chỉnh tề, biến đoàn quân khởi nghĩa thành một đoàn người đi chúc Tết hiền lành nhưng mang trái tim quả cảm. Ngay cả khi đối mặt với họng súng của lính Mỹ tại đồn Nguyễn Văn Cừ, bằng sự điềm tĩnh và lý lẽ đanh thép về "tục lệ ngày Tết", nhân dân đã khuất phục sự nghi ngờ của kẻ thù để hiên ngang tiến về phía cầu Thủy Tú.

Lịch sử luôn có những khúc quanh thử thách lòng người. Tại bến sông Nam Ô, trước sự ngăn chặn ngoan cố của lính Mỹ gác cầu, một mặt cô gái trẻ Phạm Thị Hạnh mưu trí dùng tiếng "bồi" và tờ bướm để đấu tranh chính trị, mặt khác, hàng trăm người dân đã linh hoạt chuyển hướng sang đường thủy, huy động ba mươi chiếc ghe vạn chài để vượt sông. Giữa dòng nước xiết, khi tiếng súng đại liên của địch điên cuồng xả xuống cắt mặt nước, khi bà Dần bị đạn gãy chân vẫn nén đau thúc giục: “Anh em cứ tiếp tục đi...”, người ta mới thấy hết cái bi tráng của chiến tranh. Tiếng trống thúc liên hồi của anh Năm Dừa kết hợp cùng tiếng súng nổ giòn giã phía Nam Ô đã chính thức mở màn cho một ngày quyết chiến một mất một còn.

Dù sau đó, trước làn mưa bom bão đạn và sự phản kích điên cuồng của kẻ thù, lực lượng của ta không thể giữ vững trận địa và phải rút lui vào đêm mồng Một, nhưng chiến thắng lớn nhất của chiến dịch này chính là chiến thắng của tình đất, tình người. Suốt những ngày bị kẹt lại trong vòng vây nghẹt thở của địch, các chiến sĩ du kích đã được nhân dân Kim Liên đùm bọc, nuôi giấu ngay trong ruột rà. Những bộ quần áo nông dân, những chiếc cuốc, chiếc rựa giả vờ ra đồng tưới thuốc đã trở thành tấm lá chắn chở che cho cán bộ rút lui về vùng giải phóng Hòn Quắp một cách an toàn.

Mấy chục năm đã trôi qua, lớp bụi thời gian có thể làm mờ đi nhiều thứ, nhưng ký ức về đêm giao thừa lịch sử năm 1968 vẫn vẹn nguyên giá trị. Hình ảnh đoàn người nườm nượp nối đuôi nhau, rộng thùng thình áo dài che giấu vũ khí, tay cầm đuốc sáng rực cả một góc trời mãi là một biểu tượng bất tử của tinh thần kiên trung. Đó không chỉ là kỷ niệm của một đời người, mà là trang sử vàng soi sáng cho các thế hệ mai sau về sức mạnh vô địch của lòng dân khi đã hòa cùng vận mệnh của Tổ quốc.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn