Anh hùng Lực lượng vũ trang

ĐẶNG THÙY TRÂM - NGỌN LỬA BẤT TỬ TỪ ĐỨC PHỔ

Huế28/09/2026Chi đoàn Tiểu học Đinh Tiên Hoàng (Phường Tăng Nhơn Phú)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
ĐẶNG THÙY TRÂM - NGỌN LỬA BẤT TỬ TỪ ĐỨC PHỔ

NGỌN LỬA BẤT TỬ TỪ ĐỨC PHỔ

“Đời người chỉ sống có một lần, phải sống sao cho khỏi xót xa ân hận vì những năm tháng sống hoài, sống phí.”

Lời tâm niệm trích từ áng văn kinh điển ấy không phải là triết lý giáo điều, mà chính là lẽ sống gan ruột được đúc kết bằng máu, mồ hôi và bầu nhiệt huyết thanh xuân của bác sĩ, liệt sĩ Đặng Thùy Trâm giữa làn mưa bom bão đạn tại Đức Phổ (Quảng Ngãi) năm 1968. Hơn nửa thế kỷ trôi qua, ngọn lửa ấy vẫn tỏa sáng vẹn nguyên giá trị. Nó trường tồn không chỉ bởi sự hy sinh anh dũng, mà trên hết vì cuộc đời vỏn vẹn 27 mùa xuân của chị là hiện thân mẫu mực cho tinh thần dấn thân, trách nhiệm và phẩm giá cao đẹp của con người Việt Nam.

Sinh ngày 26/11/1942 tại Huế, Đặng Thùy Trâm lớn lên trong những năm tháng gian khó của Hà Nội thời kháng chiến. Là con gái của bác sĩ Đặng Ngọc Khuê và giảng viên Dược khoa Doãn Ngọc Trâm, từ nhỏ chị đã thấu hiểu nỗi vất vả của đồng bào nơi sơ tán. Mới mười tuổi đầu, cô bé Thùy Trâm đã biết thay người lớn cấy lúa, mò ốc phụ giúp bữa ăn gia đình; đêm về, dưới ánh đèn dầu le lói, chị lại đắm mình vào từng trang sách của Balzac, Nam Cao. Hiện thực khắc nghiệt không làm chị nao núng, mà trái lại đã bồi đắp một tâm hồn vừa giàu nghị lực, vừa chan chứa lòng trắc ẩn. Chị sớm chiêm nghiệm sâu sắc: giá trị đời người không đo đếm bằng độ dài của tháng năm, mà được định lượng bằng những gì ta cống hiến cho tha nhân.

Năm 1958, bước vào Trường Bưởi – Chu Văn An danh tiếng, người nữ sinh Hà thành nổi bật với tâm hồn say mê văn chương và chất giọng Alto truyền cảm trong các hoạt động phong trào. Song, trước ngưỡng cửa cuộc đời, chị đã gác lại ước mơ nghệ thuật để chọn ngành Y – một quyết định xuất phát từ lý tưởng trong sáng: phụng sự Tổ quốc bằng tấm lòng y đức cứu người thay vì chỉ dùng ngòi bút tô đẹp cuộc đời.

Năm 1967, sau khi tốt nghiệp sớm, chị tình nguyện lên đường chi viện cho chiến trường miền Nam khốc liệt và được phân công về Bệnh xá huyện Đức Phổ (T18). Nơi đây, điều kiện y tế thiếu thốn đến tận cùng: phòng mổ đặt dưới hầm chữ A tăm tối, bàn mổ ghép từ vài tấm ván gỗ thô sơ, dao mổ phải tận dụng mài từ bu-ri xe, còn thuốc men thì khan hiếm đến mức phải hái lá kia lim đắp vết thương. Thế nhưng, trong muôn vàn gian nan, trang nhật ký của người nữ bác sĩ chưa từng vương một lời than trách; nơi ấy chỉ có tình thương bao la, niềm tin son sắt và lời tự răn mình: tuyệt đối không bỏ sót bất kỳ bệnh nhân nào, dù họ là bộ đội hay người dân.

Chiến dịch Mậu Thân 1968 biến bệnh xá thành tuyến đầu sinh tử đón nhận hàng chục ca thương binh mỗi ngày. Dưới tầm bom rải thảm của pháo đài bay B-52, Đặng Thùy Trâm cùng đồng đội kiên cường bám trụ, di chuyển trạm xá qua 15 địa điểm dã chiến, thức trắng muôn đêm đào hầm khoét núi cứu người mà quên đi sức lực cạn kiệt. Tinh thần vị tha ấy sáng ngời qua câu chuyện về 14 thủy thủ tàu không số 643: khi họ bị thương nặng đưa về trạm xá, chị đã nhường trọn phần cơm gạo trắng quý giá giữa mùa thiếu đói cho các anh. Cảm phục trước tấm lòng người nữ bác sĩ, các chiến sĩ trìu mến gọi chị là “Thiên thần áo trắng”.

Ngày 22/7/1970, trên đường tới lán thăm bà con, Đặng Thùy Trâm cùng y tá Kim Liên bất ngờ rơi vào ổ phục kích của địch. Trong khoảnh khắc đối mặt lằn ranh sinh tử, chị không hề do dự lấy thân mình che chở làn đạn cho đồng đội. Sự hy sinh quả cảm của chị đã cứu sống người y tá trẻ, viết nên khúc tráng ca bất diệt về lòng dũng cảm và tinh thần đồng chí.

Hai cuốn nhật ký chị gửi lại chiến trường ngỡ đã hóa tàn tro khi rơi vào tay đối phương. Nhưng lời can ngăn mang sức nặng kỳ diệu của người lính thông ngôn: “Đừng đốt! Trong đó đã có lửa” đã lay động viên trung úy Frederic Whitehurst, khiến ông gìn giữ chúng cẩn trọng suốt hơn 35 năm trước khi tìm cách trao trả về gia đình liệt sĩ năm 2005. Ngay khi được xuất bản, cuốn sách đã tạo nên cơn địa chấn văn hóa với hơn 400.000 bản in, được dịch ra hơn 20 ngôn ngữ trên thế giới. Báo chí quốc tế đã trân trọng gọi chị là “Anne Frank của Việt Nam” – sự công nhận toàn cầu cho một trái tim kiên cường, giàu tính nhân văn.

Ngọn lửa nhân ái và lý tưởng nhen nhóm từ hầm chữ A Đức Phổ hơn nửa thế kỷ trước chưa bao giờ nguội lạnh. Hôm nay, ngọn lửa ấy đang tiếp tục bừng sáng trong từng trang giáo án điện tử, từng giờ giảng của cán bộ, giảng viên Khoa Tin học - Ngoại ngữ. Bằng tri thức, đạo đức và tinh thần trách nhiệm, thế hệ hôm nay đang viết tiếp những trang “Nhật ký thế kỷ XXI” xứng đáng với sự hy sinh của những người đi trước.

 

Picture1.jpg

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn