NGỌN LỬA BÌNH LINH GIỮA RỪNG CHÀ LÀ
Những năm đầu thế kỷ XX, vùng Chà Là còn là rừng già, rừng lõm, cây chà là mọc tự nhiên rất nhiều. Người dân từ Trảng Bàng, Thái Mỹ – Củ Chi về đây khai hoang, lập xóm, sống từng cụm nhỏ để nương tựa nhau giữa rừng hoang, thú dữ, bệnh tật và đói nghèo. Từ những mái nhà thưa thớt ấy, cái tên Chà Là ra đời và tồn tại mãi đến hôm nay. Đến những năm 1930, chủ tư bản Pháp Arnaud lập đồn điền cao su Bình Linh. Cũng từ đó, đời sống người dân và công nhân nơi đây bước vào những tháng ngày bị áp bức nặng nề. Công nhân cao su Bình Linh phải chịu cảnh đánh đập, cúp phạt, làm khoán, lương thấp, giờ làm kéo dài. Nhưng chính trong gian khổ ấy, tinh thần đấu tranh đã sớm nhen lên. Họ biết đoàn kết để chống lại sự hà khắc của chủ đồn điền, đòi ngày làm 8 giờ, đòi tăng lương, đòi cải thiện đời sống. Năm 1943, đồng chí Nguyễn Gia Đằng, tức Tư Cam, cán bộ Công hội đỏ Nam bộ, được cử đến Tây Ninh để tuyên truyền, tập hợp công nhân. Đến năm 1944, đồng chí đã tìm cách liên lạc, xây dựng cơ sở tại đồn điền cao su Bình Linh, trong đó có anh Nguyễn Văn Trạo và anh Quý. Nhờ có sự vận động ấy, công nhân Bình Linh đã tổ chức đình công, kéo lên chủ sở đòi tăng lương, giảm giờ làm, chống đánh đập, buộc bọn chủ phải nhượng bộ. Rồi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 bùng lên như cơn gió lớn thổi qua rừng cao su. Khi Nhật đầu hàng đồng minh, phong trào Việt Minh hoạt động công khai, quần chúng tự trang bị giáo mác, tầm vông vạt nhọn để sẵn sàng chiến đấu. Ở vùng Láng – Phước Hiệp có nhóm vũ trang do ông Đỗ Văn Ngọc, ông Trần Văn Xưa, ông Nguyễn Văn Chiều chỉ huy; ở xóm Chà Là có nhóm vũ trang do ông Nguyễn Văn Xướng chỉ huy. Đến tối 25/8/1945, chính quyền Tây Ninh thuộc về tay nhân dân. Riêng tại đồn điền cao su Bình Linh, công nhân đã nổi dậy, tay dao, tay gậy kéo đến trụ sở đồn điền biểu tình thị uy. Chủ đồn điền khiếp sợ bỏ chạy về Sài Gòn. Đồn điền cao su Bình Linh từ chỗ là nơi bóc lột, áp bức, đã trở thành nơi công nhân đứng lên giành quyền làm chủ. Nhưng độc lập vừa giành được chưa bao lâu, thực dân Pháp quay lại xâm lược. Ngày 8/11/1945, quân Pháp đánh chiếm thị xã Tây Ninh, rồi càn quét, chiếm lại các đồn điền, trong đó có Bình Linh. Chúng đóng đồn, lập tua, dựng tháp canh, mở nhiều cuộc càn vào Láng, Phước Hiệp, Bàu Chanh, Bàu Chòi; đi đến đâu chúng đốt phá, bắn giết, uy hiếp tinh thần đồng bào đến đó. Trước sự lấn chiếm ấy, nhân dân Chà Là không chịu khuất phục. Ở Bình Linh, công đoàn lãnh đạo công nhân lãng công, đổ bớt mủ, chặt phá cao su, thu mua lương thực, góp tiền của tiếp tế cho kháng chiến. Ban ngày, họ là công nhân cạo mủ. Ban đêm, họ âm thầm trở thành những người giữ lửa cho cách mạng, bảo vệ cơ sở, nuôi giấu cán bộ, góp từng hạt gạo, từng đồng tiền cho kháng chiến. Có những giai đoạn, giặc Pháp và lực lượng phản động Cao Đài gom dân, đóng đồn, càn quét liên tục. Chúng dùng thủ đoạn “giết sạch, đốt sạch, phá sạch”, làm cho đồng bào, cán bộ, chiến sĩ Chà Là phải chịu vô vàn gian khổ. Gạo muối thiếu, thuốc men thiếu, có ngày chỉ vài củ mì, vài trái bắp. Nhưng giữa cái đói, cái rét, giữa bom đạn và khủng bố, tinh thần chiến đấu vẫn không hề nao núng. Từ trong những năm tháng ấy, Chà Là đã hình thành một thế hệ con người gan góc. Thanh niên hăng hái tòng quân; phụ nữ tham gia các đoàn thể cứu quốc; có Ban xay giã xay hàng chục tấn gạo phục vụ kháng chiến. Công nhân Bình Linh không chỉ đấu tranh đòi quyền sống, mà còn trực tiếp phá hoại kinh tế địch, vạt vỏ cây, đập chén, phá máng hứng mủ, làm cho tư bản Pháp thiệt hại nặng nề. Câu chuyện Bình Linh – Chà Là vì thế không chỉ là câu chuyện của một vùng đất, mà là câu chuyện của những con người bình dị đã biết biến nỗi đau thành sức mạnh. Từ người nông dân khai hoang giữa rừng sâu, từ người công nhân cao su bị bóc lột, họ đã đứng lên, đi theo cách mạng, góp phần làm nên truyền thống kiên cường của quê hương Chà Là trong những năm tháng kháng chiến. Ngọn lửa ấy không rực cháy bằng lời nói lớn lao, mà cháy âm thầm trong từng nhát cuốc khai hoang, từng giọt mủ cao su, từng đêm canh gác, từng hạt gạo gửi vào chiến khu. Đó chính là “câu chuyện thời hoa lửa” của Chà Là – câu chuyện về lòng yêu nước, về ý chí bám đất, bám dân, bám cách mạng đến cùng.



