Ngọn Lửa Cách Mạng Từ An Tràng: Hành Trình Hy Sinh của Hoàng Thiết Tâm
Hoàng Thiết Tâm (tên thật là Hoàng Văn Trành), sinh năm 1908 tại làng An Tràng, huyện An Lão, tỉnh Kiến An (nay thuộc thành phố Hải Phòng). Xuất thân trong gia đình nghèo, ông sớm rời quê ra Hải Phòng làm bồi bếp cho một hãng buôn người Pháp để mưu sinh, từ đó dần tiếp cận các phong trào đấu tranh của công nhân.
Trong quá trình lao động, Hoàng Thiết Tâm nhanh chóng giác ngộ cách mạng, tham gia Nghiệp đoàn Bồi bếp, Công hội đỏ và Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Với bí danh “Gian”, ông trở thành một trong những đảng viên cộng sản đầu tiên của Hải Phòng khi Chi bộ Cộng sản ra đời năm 1929. Từ đó, ông bám sát cơ sở, vận động quần chúng, xây dựng phong trào đấu tranh rộng khắp ở khu vực Hải Phòng – Kiến An.
Giai đoạn 1930–1940, Hoàng Thiết Tâm tham gia lãnh đạo nhiều hoạt động công nhân và phong trào dân chủ. Ông từng bị thực dân Pháp bắt, kết án tù chung thân và đày ra Côn Đảo. Trong nhà tù, ông tiếp tục đấu tranh kiên cường, giữ vững khí tiết cộng sản. Sau khi được ân xá năm 1936, ông trở lại hoạt động cách mạng, tham gia Thành ủy Hải Phòng, góp phần phát triển phong trào công nhân và đấu tranh dân sinh, dân chủ.
Năm 1940, ông lại bị bắt và bị đày lao động khổ sai ở Bắc Mê (Hà Giang), sau đó chuyển đến trại giam Bá Vân (Thái Nguyên). Đầu năm 1945, Hoàng Thiết Tâm vượt ngục, trở về căn cứ, tiếp tục tham gia chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền tại Kiến An.
Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, ông được giao giữ chức Chỉ huy trưởng Tỉnh đội Kiến An, trực tiếp xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng non trẻ. Trong bối cảnh chính quyền mới vừa thành lập, ông tham gia chỉ huy nhiều nhiệm vụ quan trọng, trong đó có việc trấn áp các lực lượng phản động Việt Quốc, Việt Cách đang tìm cách cướp chính quyền.
Đêm 20/11/1945, trong trận đánh vào nhà Bảo Hương – sào huyệt của lực lượng phản động tại tỉnh lỵ Kiến An, Hoàng Thiết Tâm trực tiếp dẫn mũi xung kích đột nhập. Khi đang tiến công lên tầng gác, ông bị hỏa lực địch bắn trúng và hy sinh tại chỗ.
Hoàng Thiết Tâm hy sinh khi mới 37 tuổi, để lại tấm gương kiên trung, bất khuất trong cả quá trình hoạt động cách mạng từ thời tiền khởi nghĩa đến những ngày đầu bảo vệ chính quyền cách mạng. Năm 1999, ông được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, ghi nhận những cống hiến trọn đời cho Tổ quốc.



