NGỌN LỬA KHÔNG TẮT Ở TUY PHƯỚC
Sáng sớm, sương trắng còn đọng trên những tán cọ Tiên Phước. Con đường đất đỏ dẫn về làng Thạnh Bình thoảng mùi gió núi. Trên nền trời mờ đục, bóng một người thanh niên dáng cao gầy bước vội về phía đình làng – nơi những trang sách Nho học đang chờ ông mở ra một tương lai mới. Người ấy là Huỳnh Thúc Kháng, chàng trai xứ Quảng năm nào mang trong mình hai chữ “chính khí”.
Sinh ra giữa vùng đất “địa linh nhân kiệt”, Huỳnh Thúc Kháng từ nhỏ đã sớm hiểu thế nào là nỗi đau mất nước. Mỗi khi nghe tiếng mẹ kể chuyện triều đình nhu nhược hay người dân bị áp bức, đôi mắt cậu thiếu niên lại ánh lên một nỗi buồn khó tả. “Con sẽ làm gì cho nước Việt này đây?” – câu hỏi ấy cứ thế theo ông suốt những năm đèn sách.
Năm 1904, khi phong trào Duy Tân âm thầm lan rộng khắp Quảng Nam – Đà Nẵng, Huỳnh Thúc Kháng cùng các chí sĩ Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp đã xuống đường vận động cải cách. Một buổi tối mùa hè, giữa ánh đèn dầu leo lét trong một ngôi nhà tranh, những người yêu nước lặng lẽ bàn bạc kế sách khai dân trí, chấn dân khí. Huỳnh Thúc Kháng đặt tay lên bàn, giọng trầm nhưng kiên định:
— “Nước mất không chỉ vì giặc mạnh, mà vì dân ta chưa được học. Muốn thay đổi, phải dạy cho dân biết mở mắt nhìn đời.”
Nhưng rồi sự kiện Duy Tân khởi nghĩa năm 1908 nổ ra, khiến bao người ngã xuống. Ông bị thực dân Pháp bắt và kết án 13 năm tù Côn Đảo. Ngày rời quê, Huỳnh Thúc Kháng chỉ kịp nhìn lại dãy núi Tiên Phước phủ trong sương xám. Nhưng trong ông không có sợ hãi, chỉ có một ngọn lửa âm ỉ:
— “Thân này dẫu ở lao tù, chí này không chịu khuất phục.”
Ở Côn Đảo, những ngày giam khổ ải không dập tắt được ý chí của ông. Giữa những cơn gió biển rát mặn, ông vẫn kiên trì ghi chép, học tập, bàn luận với đồng chí. Bạn tù kể lại rằng: “Ông Huỳnh chưa một lần than vãn. Mỗi buổi chiều, ông đều đứng nhìn mặt trời lặn như để nhắc mình rằng ngày tự do sẽ đến.”
Đến năm 1921, khi được trả tự do, ông trở về mở tờ báo Tiếng Dân ở Huế. Từ đây, tiếng nói của người dân thấp cổ bé miệng được vang lên mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Những bài viết của ông như ngọn đuốc soi đường, nâng bước tinh thần yêu nước của bao thế hệ.
Và rồi, trong những năm tháng cuối đời, khi giữ chức Quyền Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1946), ông vẫn giữ trọn tấm lòng “dĩ công vi thượng”, đặt đất nước lên trên cả sức khỏe đang suy kiệt.
Ngày Huỳnh Thúc Kháng qua đời, người dân Tiên Phước và cả miền Trung nghẹn ngào tiễn biệt. Trên con đường đất cũ dẫn về quê nhà, gió núi vẫn vi vu như tiếng gọi của những thế hệ đi trước.
Người dân vùng Quảng Nam – Đà Nẵng đến tận bây giờ vẫn nhắc về ông với một niềm kính trọng đặc biệt:
một ngọn lửa không tắt,
một trái tim hiền mà cứng như thép,
một người con xứ Quảng đã sống trọn đời cho dân, cho nước.


