Người hoạt động cách mạng trước năm 1945

NGỌN LỬA THANH XUÂN BÊN DÒNG TRÀ KHÚC

Chi tiết đắt giá nhất trong bài viết là khoảnh khắc Chí sĩ Lê Trung Đình thản nhiên ngâm bài thơ tuyệt mệnh trước giờ hành quyết bên bãi sông Trà Khúc. Ở tuổi 28, đứng trước ranh giới sinh tử, sự thản nhiên ngẩng cao đầu và xem cái chết nhẹ tựa lông hồng của ông không chỉ tôn vinh khí tiết lẫm liệt của người quân tử, mà còn thắp lên ngọn lửa lý tưởng sống bất tử cho thế hệ trẻ hôm nay.

Lai Châu21/08/2026KSOR H' ƯNG (Đoàn trường Đại học Phạm Văn Đồng)7 lượt xem0 lượt chia sẻ

Quảng Ngãi đón tôi, một người con mang trong mình nắng gió của đất ngàn Gia Lai, bằng một ngày đong đầy nắng gió miền biển và cả sự ngơ ngác của một tân sinh viên ngoại tỉnh mang theo bao bỡ ngỡ của kẻ xa quê. Mọi thứ ở mảnh đất này, từ giọng nói ngọt ngào mà rắn rỏi của người bản địa, nhịp sống trầm mặc bên bến sông Trà Khúc cho đến những con đường rợp bóng cây, đều là các mảnh ghép hoàn toàn mới mẻ. Thuở ban đầu, khi mới bước chân vào học tập dưới mái trường Đại học Phạm Văn Đồng, tôi chưa từng đi hết các con phố mang tên danh nhân, cũng chưa từng một lần ghé thăm Đền thờ Chí sĩ Lê Trung Đình. Thế nhưng, qua từng bài giảng trên giảng đường cùng những câu chuyện kể của bạn bè xứ Quảng, cái tên Lê Trung Đình cứ thế đi vào tâm trí tôi tựa một mối duyên lành, nhẹ nhàng mà sâu đắm. Tôi bắt đầu lật mở từng trang sử cũ, để rồi bàng hoàng nhận ra đằng sau vẻ bình yên của mảnh đất này hôm nay là một quá khứ cuộn trào sóng gió và rực lửa anh hùng. Người chí sĩ được cả vùng đất này kính cẩn tri ân năm xưa, khi phất cờ chống Pháp, từng là một người trẻ tuổi, một Cử nhân mang trong mình trái tim sục sôi lý tưởng và khát vọng dấn thân.

Lê Trung Đình sinh năm 1857 tại làng Phú Nhơn, phủ Bình Sơn, nay thuộc phường Trương Quang Trọng, thành phố Quảng Ngãi, trong một gia đình khoa bảng danh giá. Thông minh và thiên chất hơn người, ông sớm đỗ Cử nhân năm 1884 khi mới bước sang tuổi 27. Trong xã hội bấy giờ, tấm bằng Cử nhân ở độ tuổi ấy chính là chiếc chìa khóa vàng mở ra cánh cửa quan trường vinh hoa, bảo đảm cho một cuộc đời an thân lập nghiệp phong lưu. Nhưng khi nhìn đất nước chìm trong họa xâm lăng và triều đình nhu nhược, người trí thức trẻ ấy dứt khoát ngoảnh mặt với nhung lụa. Ông không chọn lối đi êm đềm, mà chọn con đường chông gai nhất là chiêu mộ thanh niên yêu nước, lập nghĩa hội và xây dựng căn cứ vững chắc trên đỉnh Tuyền Tung.

Năm 1885, ngay khi chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi loan tới, ông lập tức hưởng ứng và dựng nên ngọn cờ nghĩa Cần Vương đầu tiên ở phía Nam kinh thành Huế. Đêm 13-7-1885, dưới sự chỉ huy của người thanh niên mới mươi tám tuổi, hơn 3.000 hương binh áo vải bất ngờ tiến công, chiếm giữ thành Quảng Ngãi. Dù chỉ làm chủ thành được vài ngày ngắn ngủi trước khi bị kẻ phản bội đánh úp, ngọn lửa nghĩa hội ấy vẫn thắp sáng tinh thần quật cường, mở đầu cho phong trào Cần Vương bất khuất ở miền Nam Trung Kỳ.

Rơi vào tay kẻ thù khi cuộc khởi nghĩa tan rã, Lê Trung Đình phải đối mặt với muôn vàn chiêu trò dụ dỗ, từ hứa hẹn chức quyền cao sang, quyền được sống đến các trận tra tấn dã man và tàn khốc. Nhưng đứng trước ranh giới sinh tử, khí tiết người quân tử trong ông vẫn sừng sững hiên ngang như cây tùng giữa băng tuyết. Khi bị kẻ thù ép xin ân xá để đổi lấy mạng sống, ông dõng dạc để lại một câu nói làm run sợ lòng dạ lũ bán nước và cướp nước: "Thà làm quỷ đánh giặc, còn hơn sống nhục làm tay sai; chịu chết vinh còn hơn sống nhục." Đó không phải là lời nói liều lĩnh của một chiến tướng, mà là tuyên ngôn khí tiết của một bậc trí thức thức thời. Ngày 23-7-1885 định mệnh ấy, trước giờ bị đưa ra xử chém bên phía Bắc thành Quảng Ngãi, người chí sĩ trẻ tuổi vẫn thản nhiên ngâm bài thơ tuyệt mệnh vút lên giữa đất trời, xem cái chết nhẹ tựa lông hồng:

"Kim nhật lung trung điểu,

Minh triêu trở thượng ngư.

Thử thân hà túc tích,

Xã tắc ai kỳ khu!"

(Bài thơ được nhà nghiên cứu Hoàng Tạo dịch nghĩa và dịch thơ:

"Nay là chim trong lồng,

Mai đã cá trên thớt.

Thân này tiếc gì đâu,

Gian nan tình đất nước!")

Ông ngã xuống bên bãi sông Trà khi tuổi đời vừa tròn 28. Sự ra đi ấy để lại một khoảng lặng mênh mông, nhưng khí tiết của ông thì đọng lại cùng sông núi, trở thành đốm lửa vĩnh hằng soi đường cho muôn đời sau.

Từ các rung cảm trên trang sách, tôi quyết định tự mình thực hiện một chuyến hành hương. Tôi bước đi trên con đường mang tên Lê Trung Đình giữa lòng thành phố, rồi dừng chân rất lâu trước không gian trầm mặc của Đền thờ ông. Ngắm nhìn ánh mắt cương nghị trên bức tượng đồng ngả màu thời gian, tim tôi đột nhiên thắt lại. Nhẩm tính lại cột mốc lịch sử, khi phất cờ khởi nghĩa hay lúc hiên ngang bước ra pháp trường, ông cũng chỉ ở độ tuổi đôi mươi, cái tuổi mà tôi cùng bạn bè hôm nay vẫn đang tự do rong đuổi trên giảng đường Đại học Phạm Văn Đồng, mải mê với mục tiêu cá nhân và vô số mộng mơ tuổi trẻ. Khoảnh khắc ấy, khoảng cách địa lý giữa đại ngàn Gia Lai và xứ Quảng nắng gió hoàn toàn biến mất. Từ trong sâu thẳm tâm hồn, tôi nhận ra mình đã trót lòng yêu mảnh đất này tự bao giờ. Tôi yêu sự kiên cường ẩn sau nét bình yên của dải đất sông Trà, yêu những con người nơi đây chân thành, giàu tình nghĩa và luôn rộng mở vòng tay đón nhận những sinh viên xa quê như chúng tôi. Tôi thấy mình thật may mắn và đong đầy lòng biết ơn khi được sống, được học tập dưới mái trường mang tên Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng và lớn lên từng ngày trên mảnh đất giàu truyền thống này. Tôi bàng hoàng nhận ra mỗi tấc đất mình đang bước qua, mỗi khoảng trời bình yên mình đang hít thở hôm nay đều được đánh đổi bằng máu, bằng thanh xuân và lý tưởng sống rực rỡ của thế hệ đi trước từ hơn một thế kỷ trước.

Chiến tranh đã lùi xa, tiếng súng đao binh gạt vào quá khứ, nhưng tinh thần "kẻ sĩ" và khí tiết của tiền nhân vẫn nguyên giá trị. Tuổi trẻ thời chiến cống hiến bằng xương máu; tuổi trẻ thời bình cống hiến bằng trí tuệ, trách nhiệm cùng lòng biết ơn. Lớp trẻ chúng tôi hôm nay không phải đối mặt với bom đạn, nhưng lại đứng trước cuộc chiến vô hình là trận đánh với sự thờ ơ, vô cảm, với các cám dỗ vật chất tầm thường, và trách nhiệm giữ gìn phẩm giá con người. Cuộc thi "Câu chuyện thời hoa lửa" không chỉ là một sân chơi, mà là nhịp cầu tuyệt vời để một sinh viên  như tôi chạm sâu hơn vào chiều sâu văn hóa, lịch sử của mảnh đất mình đang gắn bó. Kể lại câu chuyện về Anh hùng Lê Trung Đình bằng góc nhìn của thế hệ mình chính là cách tôi thắp lên một nén hương tri ân, gửi gắm tình yêu tha thiết dành cho đất và người nơi đây, đồng thời tự dặn lòng phải nỗ lực học tập và rèn luyện dưới mái trường Đại học Phạm Văn Đồng sao cho xứng đáng với ngọn lửa thanh xuân mà cha anh đã trao lại trên dải đất Quảng Ngãi thân thương.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn