NGỌN LỬA TRI ÂN TỪ KÝ ỨC CỦA MẸ
Mỗi khi nhắc đến “Thời hoa lửa”, trong lòng thế hệ trẻ hôm nay lại dâng lên một niềm kính trọng và xúc động sâu sắc. Đó là thời kỳ mà cả dân tộc phải gồng mình chống chọi với chiến tranh, mất mát và hy sinh. Trong dòng chảy lịch sử khốc liệt ấy, hình ảnh những người Mẹ Việt Nam anh hùng hiện lên như một biểu tượng vĩ đại của sự kiên cường và đức hy sinh lặng lẽ. Và giữa lòng cuộc chiến khốc liệt ấy, có một tượng đài bất tử, thầm lặng mà vĩ đại, luôn vững vàng trước mọi giông bão thời đại: đó chí
Mỗi khi nhắc đến “Thời hoa lửa”, trong lòng thế hệ trẻ hôm nay lại dâng lên một niềm kính trọng và xúc động sâu sắc. Đó là thời kỳ mà cả dân tộc phải gồng mình chống chọi với chiến tranh, mất mát và hy sinh. Trong dòng chảy lịch sử khốc liệt ấy, hình ảnh những người Mẹ Việt Nam anh hùng hiện lên như một biểu tượng vĩ đại của sự kiên cường và đức hy sinh lặng lẽ. Và giữa lòng cuộc chiến khốc liệt ấy, có một tượng đài bất tử, thầm lặng mà vĩ đại, luôn vững vàng trước mọi giông bão thời đại: đó chính là hình ảnh người Mẹ Việt Nam anh hùng. Mẹ là hiện thân của đất nước, là ngọn nguồn của tình yêu thương bao la, và cũng là điểm tựa tinh thần vững chắc để những người con vững tay súng nơi chiến trường. Khi nhắc đến một biểu tượng đỉnh cao của sự hy sinh vô bờ bến ấy trên mảnh đất Quảng Nam – Đà Nẵng, toàn thể dân tộc Việt Nam đều kính cẩn nghiêng mình trước một cái tên huyền thoại: Mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Thứ. Cuộc đời Mẹ không chỉ là những trang ký ức riêng tư của một gia đình, một dòng họ, mà nó đã hòa vào dòng chảy đại ngàn của lịch sử dân tộc, đại diện tiêu biểu cho hàng triệu người mẹ đất Việt đã lặng lẽ hiến dâng tất cả những gì quý giá nhất của đời mình cho Tổ quốc quyết sinh.
Từ khi còn là một cô gái trẻ, Mẹ Thứ đã phải làm quen với việc đồng áng, dãi nắng dầm mưa ngoài đồng ruộng, một tay quán xuyến lo toan cho cả gia đình. Sự lam lũ, tần tảo ấy đã rèn đúc nên ở Mẹ một bờ vai vững chãi, một đôi bàn tay thô ráp nhưng tràn đầy hơi ấm, và trên hết là một tinh thần chịu thương chịu khó đặc trưng của người phụ nữ đất Quảng. Thế nhưng, cái nghèo của tự nhiên vẫn chưa là gì so với những thử thách tàn khốc mà chiến tranh mang lại. Khi ngọn lửa chiến tranh lan rộng, quê hương Quảng Nam không còn bình yên. Những xóm làng trù phú bỗng chốc trở thành bãi chiến trường, nơi ranh giới giữa sự sống và cái chết chỉ cách nhau trong gang tấc.
Cuộc sống của Mẹ Thứ và dân làng bị đảo lộn hoàn toàn. Tiếng kẻng báo động bom rơi, tiếng súng nổ vang trời thay thế cho tiếng sáo diều, tiếng trâu gặm cỏ thanh bình ngày xưa. Đứng trước họa xâm lăng, người nông dân hiền lành như Mẹ phải học cách đối mặt với sự khốc liệt. Ruộng đồng vẫn phải cấy cày, cơm áo vẫn phải lo, nhưng giờ đây trên đầu Mẹ là máy bay địch gầm rú, dưới chân là đất đai có thể nổ tung bất cứ lúc nào. Chính trong hoàn cảnh nghiệt ngã ấy, bản lĩnh của một người mẹ bắt đầu được thử lửa, chuẩn bị cho những chuỗi ngày hy sinh vĩ đại phía sau.
Khi đất nước bước vào giai đoạn kháng chiến trường kỳ và gian khổ, tiếng gọi của Tổ quốc vang lên. Lớp lớp thanh niên gác lại bút nghiên, gác lại những ước mơ cá nhân để lên đường tòng quân. Gia đình Mẹ Thứ cũng không ngoại lệ. Những người con trai của Mẹ đã xung phong lên đường nhập ngũ khi tuổi đời còn rất trẻ. Ngày tiễn con ra trận, khung cảnh ấy cho đến tận bấy giờ vẫn được tái hiện nguyên vẹn qua lời kể của các nhân chứng. Khác với những người mẹ khác khóc lóc thảm thiết vì lo sợ hòn tên mũi đạn, Mẹ Thứ không hề khóc thành tiếng. Mẹ giấu tất cả những giọt nước mắt yếu mềm vào sâu trong tim. Suốt đêm trước ngày con đi, Mẹ lặng lẽ bên ngọn đèn dầu, tỉ mẩn chuẩn bị từng bộ quần áo, gói ghém cẩn thận từng nắm cơm, ít gạo, dặn dò con giữ gìn sức khỏe, giữ vững tinh thần chiến đấu của người chiến sĩ cách mạng. Sáng hôm sau, tại nơi tập kết quân, Mẹ nhìn thẳng vào mắt con trai và nói một câu giản dị nhưng nặng tựa ngàn cân: “Đất nước còn chiến tranh, con phải đi. Mẹ ở nhà lo được.” Lời nói ấy, sao mà thiêng liêng đến thế! Nó không chỉ là lời động viên, mà còn là một lời cam kết, một hậu phương vững chắc mà Mẹ dựng lên để con trai yên tâm vững bước ra tiền tuyến. Câu nói ngắn gọn chứa đựng biết bao tình thương yêu vô bờ bến và cả một sự hy sinh lớn lao, chấp nhận đối mặt với cô đơn, hiểm nguy nơi quê nhà để nhường con cho sự nghiệp chung của dân tộc.
Sau ngày các con đi, quê hương ngày càng trở nên ác liệt. Vùng đất Quảng Nam bị bom đạn kẻ thù cày xới nát tươm. Có những đêm, tiếng máy bay rít lên xé toạc bầu trời đêm tĩnh mịch, ánh lửa bom bùng lên đỏ rực, thiêu rụi xóm làng, biến một vùng quê thành biển lửa. Những lúc ấy, Mẹ Thứ cùng bà con lối xóm phải vội vã chạy xuống hầm trú ẩn. Có những khi, Mẹ phải ngồi bó gối dưới lòng đất chật hẹp, tối tăm hàng giờ đồng hồ. Trong không gian đặc quánh mùi thuốc súng và bụi đất rơi lả tả, tim Mẹ thắt lại. Nhưng Mẹ không lo cho tính mạng của bản thân, mà trái tim người mẹ ấy đang hướng về nơi trận địa xa xôi, lo lắng không biết các con mình có được an toàn dưới lằn ranh bom đạn hay không. Thế nhưng, điều kỳ diệu ở người mẹ ấy chính là sức sống kiên cường, bền bỉ như cỏ dại. Sáng hôm sau, khi tiếng máy bay vừa dứt, tiếng bom vừa ngừng, Mẹ lại vén đất bước ra khỏi hầm. Mẹ phủi sạch bụi bặm trên tấm áo nâu, bước thẳng ra đồng, tiếp tục công việc cuốc đất, cấy cày như chưa hề có cuộc hủy diệt nào vừa càn quét qua. Đối với Mẹ, triết lý sống rất đơn giản nhưng can trường: sống là phải tiếp tục, phải bám đất, bám làng đến cùng. Giữ được đất, giữ được ruộng đồng thì mới có cái ăn, mới có lương thực gửi ra tiền tuyến nuôi quân. Không dừng lại ở việc tăng gia sản xuất, Mẹ Thứ còn là một nhân tố tích cực trong các phong trào cách mạng tại địa phương. Căn nhà nhỏ và khu vườn của Mẹ trở thành một hệ thống hầm bí mật nuôi giấu hàng trăm cán bộ, bộ đội, du kích nằm vùng nguy hiểm. Ngay trong vườn nhà Mẹ có đến 5 hầm bí mật. Mẹ Thứ cùng người con gái đầu là Lê Thị Trị đã đào hầm, ngụy trang cẩn thận để bảo vệ các chiến sĩ cách mạng ẩn nấp ngay trước mũi giày viễn chinh của kẻ thù. Mẹ vừa làm nhiệm vụ cảnh giới, vừa lo cơm nước cho các anh dưới lòng đất. Không chỉ vậy, Mẹ còn tiếp tế lương thực, may vá quần áo cho bộ đội. Có những đợt chiến dịch lớn, Mẹ phải tìm mọi cách để chuyển từng gùi gạo, từng bánh thuốc men vào khu căn cứ cách mạng. Đôi vai gầy guộc của Mẹ, dưới cái nắng cháy da của miền Trung và những trận mưa rừng xối xả, gánh trên đó không chỉ là sức nặng vật chất của nhu yếu phẩm, mà còn gánh cả một trách nhiệm thiêng liêng, to lớn với quê hương, đất nước.
Nhưng chiến tranh chưa bao giờ là một bài ca chỉ có niềm vui chiến thắng. Bản chất của nó là sự tàn khốc, là mất mát và đau thương tột cùng. Đối với Mẹ Nguyễn Thị Thứ, nỗi đau ấy nhân lên gấp muôn vàn lần khi Mẹ có đến 9 người con trai, 1 người con rể và 1 người cháu ngoại đã lần lượt anh dũng hy sinh trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Khi cầm trên tay những tờ giấy báo tử phẳng phiu nhưng lạnh ngắt, Mẹ lặng người đi. Lần lượt từng người con ra đi không trở về. Nỗi đau sau chồng chất lên nỗi đau trước. Có những năm tháng, tin dữ dồn dập dội về, khúc ruột Mẹ thắt lại đau đớn. Người con cả hy sinh năm 1948, rồi người thứ hai, thứ ba... cứ thế ra đi. Mỗi lần nhận tin, Mẹ lại lặng lẽ bước đến bàn thờ, thắp một nén hương, đặt tờ giấy báo tử lên cạnh bài vị, rồi ngồi lặng lẽ nhìn trân trân vào làn khói hương uốn lượn. Không ai nghe thấy một tiếng nấc, không một lời than thân trách phận, người ta chỉ thấy đôi mắt Mẹ trũng sâu, chứa đựng một đại dương đau thương dồn nén. Nỗi đau cũ chưa kịp nguôi ngoai, vết thương lòng chưa kịp kéo da non thì những người con khác của Mẹ lại tiếp tục nhận lệnh lên đường ra trận. Mẹ Thứ hiểu rõ hơn ai hết cái giá của chiến tranh, hiểu rằng chuyến đi này hoàn toàn có thể là một cuộc chia ly vĩnh viễn tiếp theo. Tuy nhiên, Mẹ vẫn không một lời ngăn cản. Bằng nhãn quan của một người mẹ giàu lòng yêu nước, Mẹ thấu hiểu sâu sắc rằng, khi đất nước đang lâm nguy, khi chủ quyền dân tộc cần được bảo vệ, thì không một ai có thể đứng ngoài cuộc chiến. Mẹ tiễn các con lên đường với một tâm thế kiên định, dù trong lòng thầm cầu mong một phép màu.
Nhưng số phận trớ trêu và chiến tranh thì không có lòng trắc ẩn. Đỉnh điểm của sự đau thương là vào năm 1975, chỉ trước ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam một thời gian ngắn, người con trai cuối cùng của Mẹ cũng ngã xuống. 9 người con trai của Mẹ đã mãi mãi nằm lại trong lòng đất mẹ bao dung. Mọi rào cản lý trí sụp đổ, giọt nước mắt của người Mẹ ở tuổi xế chiều vỡ òa ra thành dòng nghẹn ngào. Tiếng khóc ấy oán hận chiến tranh tàn khốc, nhưng từ trong đống tro tàn của sự mất mát, người mẹ vĩ đại ấy lại một lần nữa đứng dậy. Mẹ lau khô nước mắt, tiếp tục cống hiến vì Mẹ hiểu mình không thể gục ngã trước ngưỡng cửa của ngày hòa bình.
(Mẹ Thứ bên mâm có chín cái bát, chín đôi đũa dành cho 9 người con của mẹ đã hy sinh
trong hai cuộc kháng chiến cứu nước)
Chính vì sự cống hiến và hy sinh vô bờ bến ấy, năm 1994, Mẹ Nguyễn Thị Thứ đã được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu cao quý: Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Mẹ Thứ đã trở thành một huyền thoại sống, một biểu tượng thiêng liêng nhất của người phụ nữ Việt Nam. Để tri ân những cống hiến vĩ đại của Mẹ và hàng triệu người mẹ khác, hình mẫu của Mẹ Nguyễn Thị Thứ đã được chọn để xây dựng nên Khu tượng đài Mẹ Việt Nam anh hùng tại đỉnh núi Cấm, xã Tam Phú, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam cũ. Ngọn núi đá sừng sững tạc hình Mẹ ôm trọn các con vào lòng chính là sự ghi nhận tấm lòng, là tình cảm biết ơn sâu sắc của toàn thể nhân dân dành cho những hy sinh của gia đình Mẹ.
(Tượng đài mẹ Thứ - Biểu tượng của lòng biết ơn vô bờ)
Sau ngày đại thắng mùa xuân năm 1975, đất nước thống nhất, giang sơn nối liền một dải, cuộc sống của người dân dần trở lại quỹ đạo bình thường. Mẹ không còn phải giật mình tỉnh giấc vì tiếng bom dội ban đêm, không còn phải chạy xuống hầm trú ẩn chật hẹp. Thế nhưng, những ký ức về một thời hoa lửa ác liệt thì chưa bao giờ phai nhạt trong tâm trí Mẹ.
Mỗi câu chuyện của Mẹ Thứ đều vô cùng giản dị, chân thật nhưng chứa đựng những bài học triết lý nhân sinh sâu sắc. Mẹ dạy con cháu trước hết phải biết yêu thương gia đình, kính trọng tổ tiên, trân trọng cuộc sống bình yên mình có mỗi ngày. Mẹ luôn nhắc nhở thế hệ trẻ không bao giờ được phép quên ơn công lao to lớn của các anh hùng, liệt sĩ. Đi liền với lòng biết ơn, Mẹ răn dạy thế hệ trẻ phải sống có trách nhiệm với bản thân, với xã hội, phải ra sức học tập, rèn luyện đức tài để góp phần nhỏ bé của mình vào việc xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu đẹp, đàng hoàng hơn.
Chiến tranh đã lùi xa, thời hoa lửa đã khép lại nhường chỗ cho một kỷ nguyên của hòa bình, hội nhập và phát triển công nghệ vượt bậc. Thế nhưng, trách nhiệm của thế hệ trẻ không vì thế mà nhẹ đi. Nhờ có sự cống hiến, hy sinh thầm lặng của những người mẹ anh hùng như Mẹ Nguyễn Thị Thứ, thế hệ trẻ mới có được một cuộc sống yên bình như ngày hôm nay. Hình ảnh Mẹ Nguyễn Thị Thứ – người Mẹ Việt Nam anh hùng huyền thoại, người phụ nữ đã âm thầm chịu đựng biết bao nỗi đau xé lòng, lặng lẽ cống hiến những người thân yêu nhất cho sự nghiệp giải phóng quê hương – sẽ mãi mãi là một ngọn lửa sưởi ấm và soi sáng trong tâm khảm của biết bao bạn trẻ. Ngọn lửa ấy là biểu tượng của lòng yêu nước nồng nàn, của đức hy sinh cao cả và sức sống kiên cường, mãnh liệt của con người Việt Nam qua mọi thời kỳ giông bão.
Sống trong một xã hội hòa bình, người trẻ phải ra sức học tập, rèn luyện đức tài để góp phần nhỏ bé của mình vào việc xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu đẹp. Tự nhắc nhở bản thân phải sống xứng đáng với những hy sinh của cha anh không còn là một khẩu hiệu suông, mà phải được cụ thể hóa bằng hành động thiết thực hằng ngày.


