Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

NGỌT BÙI NHỚ LÚC “KHỞI ĐẦU NAN”

Đoạn hồi ký kể lại niềm xúc động của tác giả khi dự kỷ niệm 30 năm thành lập Trường Sĩ quan Tăng - Thiết giáp tại núi Đanh năm 2003. Nhìn thấy nhà trường khang trang, trưởng thành, ông nhớ lại những ngày đầu gian khó khi nhận nhiệm vụ Hiệu trưởng (1972), thời điểm trường chưa có ngân sách, còn mang tên Đoàn 10 và gặp nhiều vướng mắc trong việc ra quyết định thành lập. Nhờ quyết tâm của Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Binh chủng Thiết giáp và sự quan tâm của các đồng chí lãnh đạo như Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến

Lai Châu27/02/2026Ban Biên tập tổng hợp4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ngày 10 tháng 4 năm 2003, Trường Sỹ quan Tăng - Thiết giáp tổ chức kỷ niệm 30 năm ngày truyền thống - ngày thành lập tại khu vực núi Đanh. Nơi đây đã gắn bó cuộc đời “lính xe tăng - của tôi trên một chặng đường dài (1959 - 1979).

Thăm lại trường, xem các khu sinh hoạt (nhà khách mới xây khá sang trọng), khu học tập 2 toà nhà 3 tầng gồm nhiều lớp học, các phòng nghiên cứu, thí nghiệm . . . của một trường đại học, thật rộng rãi, khang trang; trong bầu không khí vui vẻ, tưng bừng của ngày lễ, khối sĩ quan lễ phục chỉnh tề, quân hàm huân chương sáng ngời. Khối sĩ quan tương lai trẻ măng; thêm nữa những tà áo dài đủ màu sắc” trong khối hạ sĩ quan, nhân viên phục vụ tung bay trong gió...

Tôi cảm thấy lòng vui trước sự trưởng thành của nhà trường. Tôi nhớ lại những năm tháng đầu tiên xây dựng nhà trường với bao kỷ niệm không thể nào quên, có những điều mà thế hệ cán bộ, giáo viên, học viên ngày nay không thể hình dung mà cả thế hệ đầu tiên ngày đó cũng ít người được biết.

Tôi nhớ đến câu ngạn ngữ “Vạn sự khởi đầu nan”, người xưa nói quả chẳng sai, mọi sự trên đời này, dù việc to hay nhỏ, cái thùa ban đầu bắt tay vào làm thật khó khăn, gian khổ, thuận lợi cũng có, song chỉ có vượt qua được bao khó khăn ở cái thùa ban đầu mới có thể chạm tay với được cái thuận lợi. . . Quả là mọi sự khó khăn của “sự khởi đầu nan”.

Ấy xin các bạn đừng cho tôi, người Hiệu trưởng đầu tiên ngày ấy kể công nhé, mà kể công thì được cái gì nhỉ? Khi đã ở cái- tuổi “cổ lai hi rồi”, tôi cũng như bao anh em khác chỉ muốn viết để cho thế hệ sau cùng suy ngẫm. Có phải thế không? Chỉ một việc nhỏ thế này cũng đủ để các bạn nghĩ đến cái ngày ấy: Lúc đó từ Tiểu đoàn 10, Bộ Tư lệnh Tăng - Thiết giáp củng cố lại “nâng cấp” lên thành Đoàn 10, với quyết tâm xây dựng thành một trường để đào tạo sĩ quan Tăng - Thiết giáp. Ngày đó, tôi đang giữ nhiệm vụ tham mưu trưởng, Đảng ủy viên Đảng ủy Binh chủng, nên tôi hiểu và tán thành quyết tâm ấy.

Nhưng Đoàn 10, thì vẫn là Đoàn 10, thế là tôi nhận Quyết định giữ chức Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Tăng - Thiết giáp ngày 20-10-1972, nhưng sau nhiều lần bàn bạc, kiến nghị mãi đến 10-4-1973 mới có quyết định thành lập trường. Điều đó có nghĩa là tôi nhận nhiệm vụ Hiệu trưởng để xây dựng trường, nhưng ngân sách của trường thì không có, phải dựa vào sự san sẻ ngân sách của Binh chủng, và muôn vàn khó khăn cũng phát sinh ra từ đó. . .

Song phải nói là thuận lợi cũng rất lớn, đó là sự nhìn xa và quyết tâm xây dựng trường của Thường vụ Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Binh chủng. . . Với chức năng tham mưu cho Quân ủy và Bộ Quốc phòng về xây dựng và chiến đấu của Binh chủng Thiết giáp, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Binh chủng đã sớm nhận thấy nhu cầu mới, nên đã kiến nghị về thành lập trường Sĩ quan Thiết giáp sớm báo cáo lên Bộ Tổng tham mưu từ những năm 1971, sau chiến dịch đường số 9 - Nam Lào.

Tôi được biết anh Đào Văn Xuân - Phó chính ủy, phó Bí thư Đảng ủy Binh chủng đi họp trên Bộ đã gặp nhiều Thủ trưởng cấp trên trình bày về nhu cầu thành lập trường. Các đồng chí Đại tướng Bộ trưởng Quốc phòng Võ Nguyên Giáp, Thượng tướng Tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng đều đồng ý, chả hiểu do một khâu nào đó ở Hội đồng nhà trường của Bộ chưa tán thành, nên chưa ra được quyết định. Lúc đó “trường” vẫn chỉ là Đoàn 10.

Anh Đào Văn Xuân, tôi biết, cũng rất bức xúc về chuyện này. Tôi được anh Xuân cho biết: khoảng đầu năm 1973, Đại tướng Võ Nguyên Giáp xuống thăm Binh chủng, anh Đào Văn Xuân báo cáo tình hình chậm ra quyết định thành lập trường, lúc đó Đại tướng nghiêm nét mặt nói với anh Tống Thái - Cục trưởng Cục Quân lực: “Tôi cho phép anh ra quyết định về trường Sĩ quan Thiết giáp. . .”. Chúng tôi hiểu đó chỉ là lời nhắc nhở nghiêm túc của Tổng tư lệnh, Bí thơ Quân ủy Trung ương. . . và thật may sau sự kiện đó ngày 10 tháng 4 năm 1973, Bộ có quyết định chính thức thành lập trường Sĩ quan Thiết giáp.

Trường Sĩ quan Thiết giáp mới thành lập, tiếp quản một cơ ngơi “quá rộng lớn” ngoài của Đoàn 10 còn có khu sơ tán của Bộ Tư lệnh. Hai cơ sở này ở rải rác tại nhiều thôn, xóm như: Gô, Láng, Đồng Bông, Lan Đình, Cao Sơn. . . thuộc 2 xã liền nhau là xã Kim Long, huyện Bình Xuyên và xã Hướng Đạo, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc. Toàn bộ nhà ở, lớp học. . . trừ hội trường bằng gỗ, lợp ngói, còn lại đều là tranh nứa là do bộ đội ta khai thác, tự làm, sử dụng đã nhiều năm, có nhà làm từ thời Tiểu đoàn 10 nên đã dột nát nhiều, khi trời mưa, anh em phải che nilông để học và để. . . ngủ, có nhà mái đã sụp, phải chống ở bên trong, anh em nói vui “nhà mái bằng”. Tuy vậy, có nhà còn tàm tạm, nép dưới lũy tre xanh, trước nhà có giàn thiên lý là nhà của Chính ủy Binh chủng sau là nhà Hiệu trưởng rất “thơ mộng” khi trăng thanh gió mát:

Nhà tôi tọa ở ven đồi
Có giàn hoa lý, thiếu người. . . tôi thương

Cơ sở “doanh trại” quá nghèo nàn, phân tán như vậy song nhà trường lại tiếp nhận được một “vốn quý” mà cái “vốn quý” đó là do tầm nhìn xa và quyết tâm của Thường vụ và Bộ Tư lệnh, điều động bổ sung về đó là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy và quản lý giáo dục đã qua công tác thực tiễn và ba năm như các anh nguyên là Đoàn trưởng (phó), chỉnh ủy Đoàn 10: anh Lệ Quang Phước được bổ nhiệm làm Phó chính ủy kiêm Phó bí thư Đảng ủy, anh Nguyễn Văn Lãng làm phó hiệu trưởng. Nhiều đồng chí đang công tác ở Đoàn 10 như các anh: Nguyễn Viết Thường, Trần Văn Hồng, Trần Hữu Đạt, Hà Văn Đa, Nguyễn Văn Sóc được bổ nhiệm phụ trách các phòng; đội ngũ giáo viên có các anh: Hà Cao Lộc Trần Quý Cầu, Phạm Toán, Lưu Kim Giao... được bổ nhiệm làm chủ nhiệm các khoa giáo viên.

Đội ngũ cán bộ, giáo viên này là nòng cốt, với cán bộ, giáo viên mới bổ sung về cùng sát cánh vai nhau, hỗ trợ cho nhau để xây dựng nhà trường trong giai đoạn vạn sự khởi đầu nan” ấy.

Hàng loạt vấn đề là nhân tố quyết định đến chất lượng dạy và học của nhà trường được đặt ra cho Ban giám hiệu mới và toàn thể nhà trường phải giải quyết- đó là:

- Phải phấn đấu trong thời gian nhất định để có “Trường ra trường, lớp ra lớp” từ bán kiên cố đến kiên cố lâu dài.

- Xây dựng đội ngũ giáo viên đủ số lượng và chất lượng - phẩm chất đạo đức giỏi chuyên môn, phương pháp sư phạm, lúc đầu nhà trường chỉ có 58 giáo viên các bộ môn và 10 giáo viên văn hóa, năm 1979 - 1980, nhà trường đã có trên 100 giáo viên theo yêu cầu nhiệm vụ giảng dạy.

- Phải tạo ra nhiều cơ sở vật chất, đồ dùng học tập, xóa bỏ tận gốc “giảng chay, học chay”.

- Cải thiện đời sống của bộ đội - quân số học viên theo quy định là 600 - 700. Trên thực tế thường xuyên là trên 1000 học viên, có lúc lên tới 1760 học viên. Việc lo ăn, cải thiện đời sống bộ đội là một cố gắng lớn của toàn nhà trường (có lần, gạo mậu dịch ở cây số 8 thiếu, nhà trường phải vay gạo nhà máy chè và nông trường).

Sang năm thứ hai (1974) các khu đất hoang hóa xung quanh khu vực đóng quân tiếp tục được khai phá, mở rộng các vườn rau đủ loại, liên hệ với địa phương cấy thêm hàng chục mẫu ruộng, chăn nuôi gia súc, gia cầm. Toàn trường đã có đàn trâu bò trên 50 con, bình quân 10 người nuôi một con lợn và hàng trăm đàn gà, vịt, ngan ngỗng và đào ao thả cá. Kết hợp với vệ sinh phòng bệnh nên sức khỏe của bộ đội được nâng lên làm đà để phát triển cho những năm tiếp theo.

Vấn đề gay gắt nhất vẫn là trường lớp. Tình trạng nhà, lớp ở phân tán, dột nát. Tối, chủ yếu là đèn dầu (máy nổ chạy theo thời gian hạn chê) nên ảnh hưởng lớn đến chất lượng dạy và học cũng như rèn luyện nề nếp chính quy cho bộ đội, học viên, được nhà trường đặt lên hàng đầu.

Ngoài được sự chi viện của Bộ tư lệnh về tài chính, còn lại, nhà trường phải tự túc từ khoản tiền thu được trong hợp tác lao động với tỉnh Vĩnh Phú về khai thác vật liệu xây dựng và lưới điện cao thế. Nhà trường còn khai thác gỗ để đóng bàn ghế, giường phản và đồ dùng học tập... Với sự phấn đấu liên tục trong vài năm, nhà trường đã đạt được bước tập trung toàn trường vào một khu vực, lấy trung tâm làm khu giảng đường, hiệu bộ. Bám xung quanh là khu nhà ở, lớp học bán kiên cố, vách tróc xi, mái lợp ngói, nền xi măng, riêng phòng họp kiêm phòng khách, nhà ở của Hiệu trưởng, Chính ủy thì xây bằng gạch lợp ngói, vì đây được coi là tiêu biểu của bộ mặt nhà trường. Có năm nhà trường đã tiếp đón gần 10 đoàn khách trong nước và quốc tế.

Điện đã được thắp sáng trong sinh hoạt và học tập. Tất cả những cái đó đã góp phần đẩy mạnh công tác trung tâm của nhà trường mà còn góp phần cho sinh hoạt của bà con lối xóm thêm vui. Quảng cảnh khang trang đó, tôi Hiệu trưởng bị “cái oan Thị Kính”. Đó là lần đồng chí Trung tướng Phùng Thế Tài - Phó Tổng tham mưu trưởng đi công tác, tạt qua trường thăm con trai là đồng chí Quảng, đang là giáo viên chiến thuật của trường. Đồng chí Tài nói: “Mình hỏi thăm qua Đào Huy Vũ, anh Vũ nói: Cứ đến xóm X, cái nhà nào đẹp nhất là nhà của Hiệu trưởng Đằng Giang!”, Chao ôi! Nghe câu nói đó, tôi thấy lòng mình nặng trĩu.

Không phải mọi việc đều suôn sẻ cả, mặc dù trên và dưới đều quyết tâm xây dựng trường. Sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, nhiều người cho rằng các cơ sở huấn luyện quân sự của quân đội ngụy được Mỹ xây dựng chắc là “ghê gớm lắm”, nên có ý kiến đưa trường Sĩ quan Thiết giáp vào tiếp quản trường sĩ quan ngụy ở Nước Trong. Đồng chí Tư lệnh Binh chủng cũng đồng tình - Tư lệnh ngày đó là anh Đào Huy Vũ. Song thực tế không phải như vậy.

Khi đồng chí Tư lệnh cùng cố vấn Tư lệnh (sĩ quan Liên Xô) và tôi Hiệu trưởng vào khảo sát, hóa ra đó chỉ là một trung tâm huấn luyện cho hạ sĩ quan và lính tăng. Ngoài một số thiết bị và bãi tập, nhà cửa thuộc loại cấp 4 gạch, ngói, xi măng xen kẽ nhà gỗ. . . và ý kiến này coi như bỏ. Khu đó sau này là cơ sở của Trường Hạ sĩ quan số 1 Binh chủng.

Tôi đề nghị một phương án “hơi bạo”: Bộ Tư lệnh chuyển về Hà Nội, giao khu vực doanh trại núi Đanh cho nhà trường. Kiến nghị này được nhiều đồng chí tán đồng trong đó có anh Đào Văn Xuân - Phó chính ủy và anh Lê Xuân Kiện - Phó tư lệnh. Song, đồng chí Tư lệnh và Chính ủy (ngày đó là anh Phạm Sinh) chưa tán thành, còn để nghiên cứu . . . có đồng chí còn đưa ý kiến:

- Nhà trường cứ ở khu vực đã tập trung hiện nay- khu vực Đồng Bông, Bộ Tư lệnh sẽ đầu tư từng bước để tiến tới doanh trại “chính quy” lâu dài. Thật ra là không được vì khu vực đó chỉ được một mặt, trường vẫn xen với thôn xóm của dân, không có đất để xây dựng một doanh trại chính quy theo đúng nghĩa. Thí dụ còn phải xây dựng các cơ sở tập luyện khác theo yêu cầu của một nhà trường chỉ huy, kỹ thuật xe tăng và phải có một bãi bắn nhỏ.

Trước tình hình đó, với tinh thần dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung của Binh chủng và Quân đội, tôi đành “vượt rào” báo cáo bên Bộ Tổng tham mưu, qua Cục Nhà trường. Và kiến nghị đó được đồng chí Trung tướng Cao Văn Khánh - Phó Tổng tham mưu trưởng phụ trách công tác nhà trường và huấn luyện chấp thuận. Một số cục có liên quan như Cục Nhà trường, Cục Quân huấn, Cục Tài vụ cũng ủng hộ . . .

Doanh trại khu vực núi Đanh vốn là cơ sở của Trung đoàn xe tăng 202 một đơn vị chiến đấu, ngoài chỗ ăn ở cho 3 - 4 tiểu đoàn, 4 - 5 đại đội phục vụ và cơ quan . . . còn có cơ sở phục vụ cho huấn luyện ngay trong doanh trại như bãi bắn nhỏ có giá rung điện để xe tập bắn trong “hành tiến”, có khối chắn tự nhiên là núi Đanh - nếu nhà trường không về khu núi Đanh thì cũng phải xây một bãi bắn nhỏ ở núi Đanh và hơn 20 lớp học - giảng đường, sân vận động có khán đài để bộ đội rèn luyện được thường xuyên qua lễ đài, như vậy ý định rời nhà trường về khu doanh trại ở núi Đanh đáp ứng được yêu cầu của một nhà trường chính quy và vẫn còn đất để mở rộng khi cần.

Sau này tôi - Hiệu trưởng được ủy nhiệm của Tư lệnh Binh chủng làm việc với Đoàn đại biểu Liên Xô (cũ) về thiết kế kỹ thuật (bao nhiêu lớp, trang bị cụ thể. . .) của trường sĩ quan mà Liên Xô chi viện cho ta thì mới rõ: Bạn chỉ giúp ta khu học tập và kỹ thuật, còn khu sinh hoạt toàn bộ là do Việt Nam tự đảm nhiệm, đồng thời Cục Tài vụ cũng báo cáo cho Bộ Tổng tham mưu rõ là “Phần kinh phí này chưa được dự liệu” vì hiểu nhầm là bạn giúp ta hoàn chỉnh một nhà trường.

Đây là một bước ngoặt cơ bản giúp cho Trường Sĩ quan nhiều thuận lợi, góp phần cùng với nhiều nhân tố khác để hoàn thành nhiệm vụ trung tâm của mình. Còn công trình mà Liên Xô giúp thì sau khi tôi rời khỏi nhà trường (1979), vài năm sau, Binh đoàn 11 của Bộ giúp xây dựng và chính cơ ngơi này đã làm bật “thế” của nhà trường trong tầm mắt mọi người.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
NGỌT BÙI NHỚ LÚC “KHỞI ĐẦU NAN” | Câu chuyện thời hoa lửa