NGƯỜI ANH HÙNG CHƯA TỪNG BIẾT CHỮ
Trong danh sách những người con ưu tú ngã xuống để bảo vệ từng tấc đất biên cương Lào Cai trong cuộc chiến đấu tháng 2 năm 1979, cái tên của Binh nhất Tòng Văn Chô luôn là một câu chuyện truyền kỳ đầy xúc động. Người con của đồng bào dân tộc Thái sinh ra tại bản mường Than Uyên này bước vào trận địa với một hành trang vô cùng đặc biệt: anh không biết đọc chữ phổ thông, không nói thạo tiếng Kinh, nhưng lại mang trong mình một trái tim rực lửa yêu nước và một lòng quả cảm phi thường.
NGƯỜI ANH HÙNG CHƯA TỪNG BIẾT CHỮ
Trong danh sách những người con ưu tú ngã xuống để bảo vệ từng tấc đất biên cương Lào Cai trong cuộc chiến đấu tháng 2 năm 1979, cái tên của Binh nhất Tòng Văn Chô luôn là một câu chuyện truyền kỳ đầy xúc động. Người con của đồng bào dân tộc Thái sinh ra tại bản mường Than Uyên này bước vào trận địa với một hành trang vô cùng đặc biệt: anh không biết đọc chữ phổ thông, không nói thạo tiếng Kinh, nhưng lại mang trong mình một trái tim rực lửa yêu nước và một lòng quả cảm phi thường.
Mùa thu năm 1976, khi chứng kiến các anh trai của mình sau thời gian dài cống hiến muốn xin phục viên về phụ giúp gia đình, chàng trai trẻ Tòng Văn Chô đã khảng khái nói rằng đi bảo vệ bản làng, bảo vệ Tổ quốc sao lại phải sợ, để anh đi thay cho. Với tinh thần tự nguyện cao đẹp đó, anh hăng hái lên đường nhập ngũ và được biên chế về Trung đoàn 254, bộ đội địa phương tỉnh Hoàng Liên Sơn, đóng quân ngay tại vùng ranh giới khốc liệt Bản Lầu, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai. Những ngày đầu trong quân ngũ là thử thách không nhỏ đối với Chô, khi mọi bài học huấn luyện, kỹ thuật ngắm bắn hay chiến thuật phòng thủ, anh đều phải tiếp thu thông qua những người đồng đội làm nhiệm vụ phiên dịch. Thế nhưng, bằng bản tính chịu thương chịu khó của một người con quen leo núi vượt rừng, anh học hỏi rất nhanh và sớm trở thành một tiểu đội phó mưu trí, một tay súng thiện xạ của Đại đội 6.
Khi tiếng súng xung đột biên giới bùng nổ dữ dội vào rạng sáng ngày 17 tháng 2 năm 1979, điểm cao nơi đơn vị của Tòng Văn Chô chốt giữ lập tức hứng chịu những trận mưa pháo kịch liệt của đối phương. Ngay trong những phút đầu tiên, hỏa lực địch đã đánh sập hoàn toàn công sự phòng ngự, vùi lấp người chiến sĩ trẻ dưới lớp đất đá. Không một chút hoảng loạn, Tòng Văn Chô tự dùng tay bới đất, thoát khỏi đất đá vùi lấp rồi lập tức ôm súng lao về phía chiến hào tiếp tục chiến đấu. Đứng vững trước sức ép khủng khiếp của bom đạn, anh bình tĩnh thực hiện những phát súng bắn tỉa vô cùng chuẩn xác, một mình tiêu diệt liên tiếp nhiều bộ binh địch đang tràn lên.
Đỉnh điểm của khúc tráng ca diễn ra vào sáng ngày 20 tháng 2 năm 1979, khi lực lượng của ta tại chốt bị tổn hao nghiêm trọng, Tòng Văn Chô được giao nhiệm vụ một mình phụ trách và bảo vệ một đoạn chiến hào phòng ngự dài gần 100 mét. Một mình giữa trận địa cô độc, xung quanh chỉ có tiếng gầm rú của đạn pháo và khói độc mịt mù, người chiến sĩ dân tộc Thái ấy đã biến đoạn hào thành một pháo đài bất khả xâm phạm. Anh chạy dọc chiến hào liên tục, thoắt ẩn thoắt hiện, vừa bắn trung liên, vừa ném lựu đạn để tạo cảm giác lực lượng của ta còn rất đông, đánh lui hết đợt tấn công này đến đợt tiến công khác của đối phương. Trong trận chiến không cân sức kéo dài suốt nhiều ngày đêm đó, một mình Binh nhất Tòng Văn Chô đã kiên cường tiêu diệt tổng cộng 31 tên địch, cùng đơn vị bẻ gãy hoàn toàn mũi tiến công quy mô lớn của đối phương vào trận địa.
Sự kiên cường và mưu trí của chàng trai không biết chữ năm ấy đã viết nên một huyền thoại bất tử bên dòng sông Nậm Thi, trở thành tấm gương sáng ngời cho tinh thần "Dũng sĩ giữ nước". Với những chiến công xuất sắc, ngày 20 tháng 12 năm 1979, Tòng Văn Chô đã vinh dự được Chủ tịch nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Câu chuyện về anh là minh chứng hùng hồn rằng lòng yêu nước không đo bằng con chữ hay học vấn, mà được định nghĩa bằng hành động sẵn sàng dâng hiến cả máu xương để bảo vệ bình yên cho bờ cõi nước nhà



