Anh hùng Lực lượng vũ trang

Người Anh hùng Công an nhân dân vũ trang Nguyễn Kim Vang

Người Anh hùng Công an nhân dân vũ trang Nguyễn Kim Vang

Lai Châu01/07/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ
Người chiến sĩ mang tên mùa xuân

Hồi ức về Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Kim Vang

Đã hơn nửa thế kỷ trôi qua kể từ ngày Nguyễn Kim Vang ngã xuống trên mảnh đất Phú Yên, nhưng mỗi lần nhắc đến anh, trong ký ức của những người từng sống và chiến đấu cùng anh vẫn hiện lên một chàng trai với nụ cười hiền, ánh mắt cương nghị và một ý chí sắt đá. Cuộc đời anh không dài, chỉ vỏn vẹn ba mươi năm, nhưng từng chặng đường đều gắn với những dấu son của lịch sử cách mạng và lịch sử lực lượng Công an nhân dân vũ trang, nay là Bộ đội Biên phòng.

Kim Vang sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng ở quê hương Quảng Ngãi. Cha anh là đồng chí Nguyễn Lưu, người từng tham gia Đội du kích Ba Tơ – một trong những đơn vị vũ trang đầu tiên của cách mạng Việt Nam. Có lẽ chính từ mái nhà ấy, lòng yêu nước đã lớn lên cùng anh từ thuở ấu thơ.

Những người từng học cùng Kim Vang ở Trường số 13 dành cho học sinh miền Nam tại Hải Phòng vẫn còn nhớ như in ngày Bác Hồ đến thăm. Khi Bác hỏi sau này các cháu muốn làm gì, cậu học trò nhỏ Nguyễn Kim Vang đã mạnh dạn đứng lên thưa: “Thưa Bác, chúng cháu sẽ học thật giỏi để trở về giải phóng miền Nam.”

Đó không chỉ là lời hứa của một cậu bé, mà là lời hứa được anh mang theo suốt cuộc đời.

Mười lăm tuổi, khi chiến trường miền Nam ngày càng khốc liệt, Kim Vang xin nhập ngũ. Tuổi còn rất trẻ nhưng ý chí thì không hề nhỏ. Anh được biên chế vào lực lượng Công an nhân dân vũ trang và nhanh chóng trưởng thành qua từng nhiệm vụ. Đồng đội gọi anh bằng cái tên đầy trìu mến: “Cậu bé thép.”

Những năm làm nhiệm vụ ở Kỳ Sơn, Nghệ An, anh cùng đồng đội nhiều lần đối mặt với lực lượng phỉ Vàng Pao. Không chỉ chiến đấu dũng cảm, Kim Vang còn kiên trì vận động, cảm hóa nhiều người lầm đường trở về với nhân dân. Khi vùng biên dần bình yên, anh lại cùng bà con dựng bản, khai hoang, xây dựng cuộc sống mới.

Sau khóa học tại Trường Sĩ quan Công an nhân dân vũ trang, Kim Vang được điều lên Đồn Cốc Lếu, Lào Cai làm Chính trị viên. Người cán bộ trẻ ấy chẳng mất nhiều thời gian để chiếm được lòng tin của đồng bào các dân tộc. Anh xuống từng bản làng, cùng ăn, cùng ở, cùng làm với nhân dân, kiên trì giải thích chủ trương của Đảng, vận động bà con đoàn kết giữ gìn biên cương.

Nhưng chiến trường miền Nam vẫn luôn thôi thúc anh.

Mùa hè năm 1967, Kim Vang tình nguyện trở lại quê hương đang chìm trong khói lửa. Trước ngày lên đường, anh về Hải Phòng thăm gia đình. Đó cũng là lần cuối cùng anh gặp những người thân yêu nhất.

Người em út cứ quấn quýt bên anh, hỏi đủ thứ chuyện chiến trường. Anh mở ba lô lấy gói kẹo lạc đưa cho em rồi xoa đầu cậu bé.

Cha anh nhìn hai anh em rồi dặn: “Út Bình cố gắng học giỏi, sau này ba cho đi đánh giặc theo anh Vang.”

Đêm ấy, Kim Vang lặng lẽ ngồi nhìn em trai ngủ say. Sau này người thân kể lại rằng anh từng tâm sự, chỉ mong chiến tranh sớm kết thúc để thế hệ em mình được lớn lên trong hòa bình, không phải cầm súng như cha và các anh.

Có lẽ đó cũng là ước nguyện chung của biết bao người lính năm ấy.

Sau hơn ba tháng vượt Trường Sơn, Kim Vang có mặt tại Phú Yên và được giao làm Chính trị viên Đại đội An ninh vũ trang.

Ở bất cứ nhiệm vụ nào, anh cũng luôn là người đi đầu.

Những con đường đầy mìn địch gài, anh là người bước trước.

Những trận càn ác liệt, anh là người ở lại chặn địch.

Những lúc nguy hiểm nhất, anh luôn nhường đường sống cho đồng đội.

Tháng 4 năm 1969, khi hai tiểu đoàn lính Nam Triều Tiên bất ngờ đổ bộ nhằm tiêu diệt Hội nghị An ninh tỉnh Phú Yên, Kim Vang đã chỉ huy đơn vị vừa đánh địch, vừa bảo vệ an toàn các đại biểu và gần một trăm người dân rút khỏi vòng vây. Chỉ với tám cán bộ, chiến sĩ, đơn vị của anh cầm chân đối phương suốt nhiều giờ, tiêu diệt hàng chục tên địch, tạo điều kiện cho lực lượng chủ lực rút lui an toàn.

Những người từng chiến đấu cùng anh vẫn nói rằng, giữa làn bom đạn, chỉ cần thấy Kim Vang còn đứng đó là mọi người đều có thêm niềm tin.

Không chỉ là người chỉ huy giỏi, anh còn là người anh cả của đơn vị.

Anh luôn nhường phần khó khăn về mình, chăm lo từng bữa ăn, từng giấc ngủ cho đồng đội. Những lúc đơn vị nghỉ quân, anh tranh thủ bồi dưỡng đoàn viên, giới thiệu quần chúng ưu tú vào Đảng. Từ vài đảng viên ban đầu, đại đội dần trở thành một tập thể đoàn kết, vững mạnh, chiến đấu hiệu quả trên khắp chiến trường Nam Trung Bộ.

Nhưng mùa xuân năm 1972 đã không đến với anh.

Ngày 26 tháng 1 năm 1972, trong khi cùng đồng đội tìm cách khôi phục một cơ sở cách mạng vừa bị lộ ở thôn Liên Trì, anh rơi vào ổ phục kích của địch.

Bị thương nặng, Kim Vang vẫn ôm khẩu AK, vừa chiến đấu vừa yểm trợ cho đồng đội rút lui.

Khi chỉ còn lại một mình giữa vòng vây, anh hiểu rằng nếu bị bắt, bí mật của tổ chức sẽ bị đe dọa.

Viên đạn cuối cùng, anh dành cho chính mình.

Người Chính trị viên trẻ tuổi đã chọn cái chết để giữ trọn khí tiết của người cộng sản.

Đồng đội đến nơi thì anh đã nằm lại giữa đất trời Phú Yên.

Kẻ thù kéo lê thi thể anh khắp làng xóm nhằm uy hiếp tinh thần nhân dân. Chúng còn chôn anh dưới một cái tên khác, khiến nhiều năm sau gia đình vẫn mòn mỏi đi tìm.

Mãi đến năm 1983, nhờ sự kiên trì của người em trai Nguyễn Hòa Bình cùng đồng đội, phần mộ của anh mới được tìm thấy và trả lại đúng tên.

Sau hơn mười năm xa quê, người anh hùng cuối cùng cũng được trở về nằm trong lòng đất mẹ Quảng Ngãi.

Hôm nay, trên quê hương anh có những con đường, ngôi trường mang tên Nguyễn Kim Vang. Những thế hệ học sinh lớn lên dưới mái trường ấy có thể chưa từng gặp anh, nhưng mỗi lần cất cao tiếng hát dưới lá cờ Tổ quốc, các em đều đang tiếp nối ước mơ mà người thanh niên năm nào từng gửi gắm: một đất nước hòa bình, độc lập để những thế hệ sau không còn phải lớn lên trong khói lửa chiến tranh.

Cuộc đời Nguyễn Kim Vang khép lại ở tuổi thanh xuân, nhưng tên tuổi và khí phách của anh vẫn còn mãi. Anh đã gửi tuổi trẻ của mình cho Tổ quốc để mùa xuân của đất nước được nở hoa. Và vì thế, Nguyễn Kim Vang sẽ mãi là một biểu tượng đẹp của lòng yêu nước, của bản lĩnh cách mạng và của người chiến sĩ biên phòng suốt đời vì độc lập, tự do của dân tộc.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn