Người Anh Hùng dân tộc
Xin chào thầy cô, các anh chị và các bạn học sinh, em tên là Phạm Ngọc Diệp, học sinh lớp 8A3, trường Tiểu học và Trung học cơ sở Vĩnh Bình Nam 1, tỉnh An Giang. Là một người con của đất Việt – đất nước của những con người quả cảm, những thế hệ anh hùng với những chiến công lừng lẫy khắp năm châu bốn bể, mỗi một lần lật giở lại những trang sử hào hùng của dân tộc là một lần trái tim em chìm trong sự xúc động và tự hào. Nhờ vậy, em lại càng thêm khâm phục những con người anh hùng không ngại hiểm nguy dâng hiến cả tuổi xuân, hay thậm chí cả cuộc đời cho nền độc lập dân tộc.
Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều đi qua những năm tháng được gọi là "thời hoa lửa" — thời đại mà vận mệnh giang sơn đặt lên vai những thế hệ con người sẵn sàng đem máu xương để đổi lấy tự do. Ngọn lửa ấy đi qua và thiêu rụi xóm làng, đưa nhân dân rơi vào cảnh lầm than. Nhưng cũng chính ngọn lửa ấy lại làm những đoá hoa với lòng yêu nước nồng nàn nở rộ. Giữa rừng hoa nở ra từ khói lửa ấy, Nguyễn Trung Trực là một biểu tượng lẫm liệt của tinh thần bất khuất. Cuộc đời của ông không chỉ là một bài ca về chính nghĩa, mà còn là minh chứng hùng hồn cho sức sống mãnh liệt của một dân tộc chưa bao giờ chịu khuất phục trước chiến tranh.

Nguyễn Trung Trực tên thật là Nguyễn Chơn, sau đổi thành Nguyễn Văn Lịch, ông sinh ra tại xóm nghề thôn Bình Nhựt, tổng Cửu Cư Hạ, huyện Cửu An, phủ Tân An, tỉnh Gia Định - nay thuộc ấp 1 Thạnh Đức, xã Bình Đức, tỉnh Tây Ninh (sau sáp nhập là tỉnh Long An). Ông sinh ra trong một gia đình ngư dân nghèo có gốc gác từ mảnh đất võ học Bình Định di cư vào Nam. Chính dòng máu võ hiên ngang của quê cha đất tổ, kết hợp với nét phóng khoáng, can trường của vùng sông nước Cửu Long đã nhào nặn nên một chàng thanh niên Nguyễn Văn Lịch có tư chất phi thường. Ngay từ thời trai trẻ, ông đã nổi tiếng khắp vùng về sự thông minh, giỏi cả văn lẫn võ, đặc biệt là tinh thần trượng nghĩa, thẳng thắn. Cái tên "Trung Trực" cũng chính là lời khen ngợi mà thầy dạy học dành cho tính cách ngay thẳng, chính trực của ông.
Năm 1858, thực dân Pháp nổ sung xâm lược nước ta lần đầu tiên tại Đà Nẵng, rồi dần dần lan rộng. Đến tháng 2 năm 1859, Pháp tấn công Gia Định. Vốn xuất thân là dân chài, nằm trong hệ thống lính đồn điền của kinh lược Nguyễn Tri Phương, nên ông sốt sắng theo và còn chiêu mộ được một số nông dân vào lính để gìn giữ Đại đồn Chí Hòa, dưới sự chỉ huy của Nguyễn Tri Phương nhưng không được trọng dụng nên ông lui về Tân An. Tại quê nhà, không cam tâm nhìn non sông bị giày xéo, Nguyễn Trung Trực đã chiêu mộ những người yêu nước, thành lập nghĩa binh và gia nhập quân đội của Bình Tây Đại nguyên soái Trương Định. Từ một người dân chài quanh năm bám biển, ông bước vào vùng đất mịt mù khói lửa để giành lại sự tự do cho đất nước.
Chiến công đầu tiên cũng như chiến công oanh liệt nhất trong sự nghiệp cách mạng của Nguyễn Trung Trực là trận hoả công trên dòng Nhật Tảo ngày 10 tháng 12 năm 1861. Thời điểm đó, tàu L'Espérance (tàu Hy Vọng) — một tiểu hạm bọc đồng trang bị đại bác tối tân của hải quân Pháp — đang án ngữ trên sông Nhật Tảo để kiểm soát tuyến đường huyết mạch và càn quét phong trào kháng chiến. Đối mặt với một "pháo đài nổi" hiện đại, Nguyễn Trung Trực hiểu rằng không thể dùng sức mạnh vũ khí thô sơ để đối đầu trực diện. Ông đã vạch ra một kế hoạch vô cùng táo bạo và mưu trí. Sáng ngày mùng 10, ông cùng 59 nghĩa quân cải trang thành một đoàn thuyền buôn lúa bơi áp sát tàu giặc để xin giấy thông hành. Khi áp sát được mạn tàu, lệnh tấn công vừa phát ra, những người nông dân áo vải với giáo mác, đoản đao trong tay đã nhảy phốc lên tàu giặc như những mãnh hổ. Trận giáp lá cà diễn ra chớp nhoáng nhưng vô cùng khốc liệt. Nghĩa quân nhanh chóng làm chủ tình hình, tiêu diệt phần lớn lính Pháp trên tàu, rồi dùng rơm rạ, dầu rái phóng hỏa thiêu rụi con tàu.
Sau Hiệp ước Nhâm Tuất 1862, triều đình cắt ba tỉnh miền Đông cho Pháp và hạ lệnh cho Nguyễn Trung Trực bãi binh. Nhưng với ông, mệnh lệnh của lòng dân và Tổ quốc cao hơn tất thảy. Ông chống lệnh triều đình, tiếp tục đưa quân về miền Tây lập căn cứ, kiên cường bám trụ và chiến đấu.
Đỉnh cao tiếp theo trong sự nghiệp kháng chiến của ông là trận đánh chiếm đồn Rạch Giá (Kiên Giang) vào đêm 16 tháng 6 năm 1868. Đây là một chiến tích độc nhất vô nhị trong giai đoạn này, khi một lực lượng nghĩa quân thô sơ có thể đánh úp và làm chủ hoàn toàn một đồn lỵ trung tâm tỉnh trưởng của giặc, tiêu diệt tên tỉnh trưởng cùng toàn bộ bộ chỉ huy Pháp tại đây. Chiến thắng này khiến quân Pháp hoảng loạn, phải dốc toàn bộ lực lượng từ Sài Gòn xuống để phản công.
Bài thơ Điếu Nguyễn Trung Trực của Huỳnh Mẫn Đạt có 2 câu thơ ca ngợi 2 chiến công của anh hùng Nguyễn Trung Trực như sau:
Hỏa hồng Nhật Tảo oanh thiên địa
Kiếm bạt Kiên Giang khấp quỷ thần
Dịch ra là:
Lửa bừng Nhật Tảo rêm trời đất
Kiếm tuốt Kiên Giang rợn quỷ thần
Hai thơ của danh sĩ Huỳnh Mẫn Đạt đã vĩnh viễn lưu lại khoảnh khắc huy hoàng ấy, khoảnh khắc mà người con tài giỏi của đất Việt chiến thắng oanh liệt trước kẻ thù.
Sau đó, để bảo toàn lực lượng, Nguyễn Trung Trực đã rút quân ra đảo Phú Quốc. Giặc Pháp bao vây cô lập hòn đảo, cắt đứt mọi nguồn lương thực và vũ khí. Đau đớn hơn, kẻ thù đã dùng đến thủ đoạn đê hèn nhất: bắt giữ mẹ già của ông và tra tấn dã man nhân dân vùng Rạch Giá để ép ông phải ra hàng.
Đứng trước sự lựa chọn ngặt nghèo giữa một bên là chữ "hiếu" với mẹ hiền, chữ "nhân" với đồng bào và một bên là sự an toàn của bản thân, Nguyễn Trung Trực đã có một quyết định đầy bi tráng. Ông quyết định ra mặt, nộp mình cho giặc. Sự đầu hàng của ông không phải là sự hèn nhát chịu khuất phục trước họng súng quân thù, mà đó là sự hy sinh tự nguyện vĩ đại nhất của một người anh hung. Ông lấy mạng sống của mình để trả lại sự tự do cho đấng sinh thành và nhân dân.
Bắt được Nguyễn Trung Trực, Pháp đưa ông lên giam ở Khám Lớn Sài Gòn để lấy khẩu cung. mặc dù Lãnh binh Tấn đã hết sức can thiệp để Pháp tha mạng cho ông Trực, nhưng Thống đốc Nam Kỳ G. Ohier không chịu. Vì cho rằng không thể tha được "một người đã không coi luật quốc tế ra gì, đã hạ một cái đồn của chúng ta và giết chết 30 người Pháp!" Và rồi ngày 27 tháng 10 năm 1868 (nhằm ngày 12/9 Mậu Thìn 1868), nhà cầm quyền Pháp đã đưa ông Trực ra pháp trường tại Rạch Giá và sai một người khmer trên Tưa (người dân thường gọi ông là Bòn Tưa) đưa ông ra hành hình.
Người ta kể rằng: Vào buổi sáng ngày 27 tháng 10 năm 1868, thực dân Pháp đưa Nguyễn Trung Trực ra pháp trường tại chợ Rạch Giá để hành quyết nhằm uy hiếp tinh thần của nhân dân. Nhưng chúng đã lầm. Buổi hành quyết ấy không phải là sự kết thúc của một phong trào, mà đã trở thành buổi lễ tôn vinh một vị thánh sống. Nhân dân đổ về chật kín pháp trường, khóc thương cho người anh hùng áo vải. Bô lão làng Tà Niên đến vĩnh biệt ông, đã trải xuống đất một chiếc chiếu hoa có chữ "thọ"(chữ Hán) màu đỏ tươi thật đẹp cho ông bước đứng giữa. Ông yêu cầu Pháp mở trói và bịt mắt để ông được nhìn rõ đồng bào, hiên ngang, dõng dạc trước pháp trường, nhìn bầu trời, nhìn đất nước.

Khi bước lên đoạn đầu đài, Nguyễn Trung Trực yêu cầu giặc mở băng bịt mắt để ông được nhìn ngắm mảnh đất quê hương lần cuối. Giữa không gian đất trời lồng lộng, trước họng súng của kẻ thù, ông đã hiên ngang để lại cho hậu thế một câu nói lưu danh thiên cổ:
"Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam, thì mới hết người Nam đánh Tây."
Câu nói ấy, sau này đã trở thành một lời sấm truyền của lịch sử. Ông đã mượn hình ảnh cây cỏ để nói về nhân dân mình. Cỏ - một loài cây thấp bé, bình dị, mộc mạc và bị giẫm đạp dưới chân. Nhưng cỏ cũng là loài có sức sống mãnh liệt nhất, dẫu có bị cắt, bị đốt, thì khi mưa xuống, rễ cỏ bám sâu vào lòng đất mẹ lại tiếp tục vươn lên xanh tốt. Nhân dân Việt Nam cũng vậy, dẫu có nghèo khổ, dẫu có bị đàn áp khốc liệt, nhưng lòng yêu nước trong họ là một dòng chảy bất tận, thế hệ này ngã xuống sẽ có thế hệ khác đứng lên.
Để ghi nhớ công ơn của ông, người dân Kiên Giang xây dựng tượng đài và đền thờ Nguyễn Trung Trực tại Rạch Giá. Hàng năm, vào các ngày 26, 27 và 28 tháng 8 âm lịch, người dân khắp nơi lại tề tựu về đình Nguyễn Trung Trực, phường Rạch Giá (An Giang) để thắp nén hương tri ân, tỏ lòng thành kính với người anh hùng áo vải. Không chỉ vậy, họ còn cùng nhau nấu cổ chay, gói bánh tét… dâng lên cúng ông, rồi thết đãi hàng triệu suất ăn miễn phí cho khách thập phương về dự lễ.

Nguyễn Trung Trực ngã xuống khi vừa tròn 30 – cái tuổi thanh xuân vẫn còn đang rực rỡ. Thân xác ông gửi lại cho đất Kiên Giang, nhưng linh hồn và khí phách của ông đã hóa thân vào từng ngọn cỏ, dòng sông của đất nước. Hiếm có một người anh hùng nào mà ngay sau khi nằm xuống, nhân dân lại bất chấp sự cấm đoán của kẻ thù để lập đền thờ ông khắp nơi như Nguyễn Trung Trực. Đúng như người xưa từng kính cẩn nhận định: ông sống làm tướng dũng mãnh, chết hóa thành thần linh che chở cho bờ cõi. Nguyễn Trung Trực vừa là tượng đài về tinh thần dũng cảm trong chiến tranh, vừa là tấm gương sáng với những đức tính cao đẹp cho thế hệ trẻ ngày nay noi theo.



