NGƯỜI BA LẦN LÀM TỔNG BÍ THƯ TRONG NHỮNG THỜI ĐIỂM KHÓ KHĂN VÀ THỬ THÁCH CỦA LỊCH SỬ
NGƯỜI BA LẦN LÀM TỔNG BÍ THƯ TRONG NHỮNG THỜI ĐIỂM KHÓ KHĂN VÀ THỬ THÁCH CỦA LỊCH SỬ
Theo sử sách, đầu thế kỷ XVI, cụ Đặng Chính Pháp (là con cháu các cụ Đặng Dung - Đặng Đình Nghi - Đặng Lâm) từ vùng Chương Mỹ (Hà Nội) di cư về làng Hành Thiện (Nam Định) lập nghiệp. Tuy ở xa đến, nhưng chẳng bao lâu, họ Đặng ở Hành Thiện đã trở thành một hiển tộc, với rất nhiều người tài giỏi, mà Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng - Tuần phủ Hải Dương là một trong số đó...
Nhà cụ Đặng Xuân Bảng ở làng Hành Thiện đồng thời còn là thư viện tư nhân (có tên Hy Long) lớn nhất vùng đồng bằng Bắc bộ thế kỷ thứ 19. Chàng trai Đặng Xuân Khu, cháu nội của cụ Đặng Xuân Bảng, đã được truyền thụ kiến thức từ đây. Đó là tư tưởng luôn vì Dân và nghĩ đến Dân, mà người khởi xướng là Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn: "Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy"…Cậu bé Đặng Xuân Khu sinh ra là lúc Nho học đã ở buổi xế chiều. Do truyền thống gia đình, được sự giáo dục của cha từ nhỏ, cậu đã làm quen với Tứ thư, Ngũ kinh, thơ Đường và được đào tạo bài bản về văn hóa và lịch sử theo truyền thống Nho học. Đặng Xuân Khu cũng sớm tiếp thu kiến thức của nền giáo dục phổ thông chủ yếu học bằng tiếng Pháp của chế độ thuộc địa. Anh theo học tại Trường Thành Chung, Nam Định cho đến khi bị đuổi học do đấu tranh chống chính quyền đòi làm lễ truy điệu cho nhà chí sĩ yêu nước Phan Chu Trinh. Hơn thế, Đặng Xuân Khu còn là một trong những thủ lĩnh của phong trào, nên đã phải bỏ Nam Định, lên Trường Trung học Bảo hộ ở Hà Nội thi tốt nghiệp để lấy bằng vào học trường Cao đẳng Thương mại Đông Dương.Môi trường văn hoá cao ở một gia đình trí thức lớn đã khiến kiến thức của chàng sinh viên Đặng Xuân Khu sau đó trở nên uyên thâm, sắc sảo, hiện đại hơn, nhờ biết kết hợp có sự chắt lọc những tinh hoa của văn hóa phương Tây với phương Đông, trước khi trở thành một nhà lãnh đạo ưu tú của Đảng, với tên thường dùng là Trường Chinh.Trong tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam và lịch sử 3 nước Đông Dương, đồng chí Trường Chinh đã 3 lần được Đảng tín nhiệm giao đảm trách cương vị Tổng Bí thư trong 3 thời kỳ khác nhau, thời kỳ nào cũng đầy gian nan và thử thách.Lần đầu, đồng chí Trường Chinh đảm nhận cương vị quyền Tổng Bí thư, thay đồng chí Nguyễn Văn Cừ (người bị địch bắt và kết án tử hình, hy sinh tháng 8/1941). Tại Hội nghị lần thứ 8 của Trung ương Đảng, đồng chí Trường Chinh được bầu làm Tổng Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương. Chưa hết, ông còn kiêm Trưởng Ban Tuyên huấn, Chủ bút báo “Cờ giải phóng” và “Tạp chí Cộng sản” cơ quan Trung ương của Đảng, rồi Trưởng Ban Công vận Trung ương…Làm Tổng Bí thư, khi cả Ban Thường vụ Trung ương Đảng lần lượt bị địch lùng sục, bắt bớ, giam cầm và xử tử. Đó là thời điểm vô cùng gian khó, đồng chí Trường Chinh đã được Đảng tin tưởng giao trọng trách chèo lái con thuyền cách mạng. Ông đã nhận thức đúng đắn về vai trò quan trọng của văn hoá với sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Bản Đề cương Văn hoá chỉ khoảng 1.500 từ nhưng gần như một Cương lĩnh Chính trị, Cương lĩnh Văn hoá của Đảng ta trên con đường giải phóng đất nước, thoát khỏi ách áp bức của chế độ thực dân và phong kiến.Trong cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945, đồng chí Trường Chinh cũng chứng minh tài thao lược của một nhà lãnh đạo xuất sắc với vai trò là người được Bác Hồ tin tưởng giao ông làm "Tổng Tư lệnh”, phát động nhân dân cả nước làm nên cuộc Cách mạng thần kỳ giành độc lập, tự do cho dân tộc, lập nên nhà nước non trẻ của giai cấp công nông mà đặc biệt đã có sự nhạy bén kịp thời để ban hành chỉ thị "Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta!". Tiếp đó là chủ trương được ông hoạch định và viết như một sách lược của Đảng, đó là " Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi !".Năm 1951, tại Đại hội II của Đảng, đồng chí Trường Chinh đã tái cử vào Ban Chấp hành Trung ương, là Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam. Tháng 7/1986, tại Hội nghị đặc biệt của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, ông được bầu lại làm Tổng Bí thư.Khi đất nước đứng bên bờ vực của cuộc khủng hoảng kinh tế (1986), với trọng trách là Tổng Bí thư, ông cùng Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương xoá bỏ tư tưởng trì trệ, quyết liệt đổi mới tư duy, đặc biệt là tư duy kinh tế. Một câu nói bất hủ ngày đó trong dịp Đại hội Đảng bộ Thủ đô, ông đã nhìn nhận thời điểm lúc đó, đất nước ta chỉ có một con đường: "Đổi mới hay là chết ?" Ông là người lát viên gạch đầu tiên để xây nên ngôi nhà “đổi mới” và cùng với Bộ Chính trị và Ban Chấp hành TƯ Đảng hình thành tư duy đổi mới và xác lập đường lối đổi mới toàn diện tại Đại hội VI.Đầu năm 1987, Quốc hội Việt Nam họp kỳ thứ nhất, đồng chí Trường Chinh đã tự xin rút tất cả các chức vụ, để làm Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó trưởng Ban soạn thảo Cương lĩnh và chiến lược kinh tế, kiêm Trưởng tiểu ban soạn thảo Cương lĩnh chính trị của Đảng.Đặc biệt, đồng chí Trường Chinh còn là nhà lãnh đạo dũng cảm, dám chịu trách nhiệm khi có sai lầm. Ông sẵn sàng đứng ra chịu trách nhiệm về chỉ đạo cải cách ruộng đất và rồi lại lãnh đạo công tác sửa sai sau đó. Ông đã thể hiện những phẩm chất hiếm có trong tổ chức lãnh đạo kháng chiến kiến quốc suốt 9 năm chống Pháp và xoá bỏ chế độ thực dân, phong kiến (1946 - 1954). Dấu ấn cuối cùng chính là dũng cảm xoá bỏ tư duy bao cấp kế hoạch hoá không còn phù hợp để phát triển kinh tế, vượt qua cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng bằng sự nghiệp Đổi mới (1986). Tất cả những điều đó toát lên bản lĩnh một nhà lãnh đạo tận trung với Đảng, với nước, được nhân dân tin yêu và kính phục.Cả 3 lần đảm nhiệm trọng trách Tổng Bí thư, đồng chí Trường Chinh đều có những điểm rất đặc biệt của lịch sử dân tộc. Qua đó, ông đều bộc lộ tầm cao của một trí tuệ. Đó là tầm nhìn của một một lãnh tụ kiệt xuất; là những quan điểm, tư tưởng mang tính sáng tạo về chiến lược và sách lược, thể hiện ở phương pháp cách mạng khi lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Đó là việc luôn nắm bắt và chớp thời cơ; có tư duy đổi mới, sáng tạo đưa cách mạng Việt Nam vượt qua những khó khăn và thử thách.Cố Tổng Bí thư Trường Chinh thường được nhân dân nhớ đến bằng những cụm từ "Tổng Bí thư của Cách mạng Tháng Tám”, hoặc “Tổng Bí thư - Kiến trúc sư của công cuộc Đổi mới". Ông vinh dự được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao Vàng cao quý nhất của Việt Nam...



