Người bạn nằm lại đất Bác Vọng
Sau trận đánh, khi pháo đã ngớt, tôi quay trở lại tìm bạn. Tôi tự tay đào huyệt, đặt Mão nằm xuống mảnh đất cách bờ biển thôn Bác Vọng chừng một cây số, dựng tạm một tấm bia đá, khắc vội dòng chữ "Trần Văn Mão", thì thầm hẹn với cậu ấy ngày hòa bình sẽ trở lại đón bạn về quê. Từ hôm đó, trong lòng tôi chỉ còn một nỗi căm hờn quân giặc Mỹ, tôi mang theo mối thù ấy suốt những năm tháng chiến đấu, quyết tâm sống chết với chiến trường để trả thù cho người bạn thân nhất đời mình.
Buổi sáng hôm ấy trời Huế thật lạ, nắng vừa hửng lên đã vội nhường chỗ cho những cơn mưa rả rích báo hiệu thu về. Tôi tìm đến ngôi nhà nhỏ giản dị của bác trên đường Trần Quốc Toản, phường Phú Xuân, khi bác đang lúi húi bên khoảnh vườn trước nhà, tay nâng niu từng chậu lan, ngó lại giàn bầu vừa nhú những tua non. Nghe tôi hỏi thăm, bác ngẩng lên cười hiền, mời tôi vào nhà uống chén trà. Khi câu chuyện chạm đến những năm tháng chiến trường xưa, đôi mắt bác bỗng long lanh, xa xăm như đang lật lại từng trang ký ức đã hằn sâu hơn nửa thế kỷ. Giọng bác trầm xuống, chậm rãi, và tôi biết mình sắp được nghe một câu chuyện không dễ kể lần thứ hai. Bác hắng giọng, rồi bắt đầu: “Tôi là Trần Thanh Hải, sinh năm 1953, đến nay đã 51 năm tuổi Đảng. Tuổi tôi giờ đã ngoài bảy mươi, tóc bạc, chân run, nhưng có những ký ức thì càng về già lại càng hiện rõ, như thể mới xảy ra hôm qua. Hôm nay ngồi kể lại, tôi muốn nhắc đến ba người bạn thân nhất đời lính của mình, mà trong đó có một người tôi mang nợ suốt hơn năm mươi năm chưa trả được.
Tháng 9 năm 1971, tôi lên đường nhập ngũ khi vừa tròn mười tám tuổi. Tôi được đưa về huấn luyện tám tháng tại C53, tiểu đoàn D14, trung đoàn E22A. Những ngày huấn luyện gian khổ mà vui, đêm nào cũng hành quân dã ngoại, ngày thì tập bắn, tập leo núi, đói thì có nhau, mệt thì có nhau. Sau tám tháng, tôi được bổ sung biên chế vào C7, D3, E84, thuộc Bộ Tư lệnh Pháo binh. Cũng chính tại đây, tôi gặp lại người bạn học cùng lớp thuở nhỏ – Trần Văn Mão, quê xã Thanh Hưng, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Anh em chúng tôi vẫn quen gọi cậu ấy là Mão Sẹo, vì hồi nhỏ nghịch ngợm trèo cây ngã gãy tay để lại vết sẹo dài trên trán.
Ngày gặp lại nhau giữa quân ngũ, hai đứa ôm chầm lấy nhau, cười mà nước mắt cứ chực trào ra, không ngờ số phận lại đưa đẩy để hai thằng bạn học chung một lớp giờ lại chung một đơn vị, chung một khẩu đội pháo. Cùng đơn vị với tôi và Mão còn có Phan Đăng Dũng và Nguyễn Hậu Cần. Bốn chúng tôi nhanh chóng thân thiết như anh em ruột thịt. Nhiệm vụ đầu tiên của tổ chúng tôi là khiêng súng cối 120mm, mỗi khẩu nặng đến tám mươi, chín mươi cân, băng qua biết bao nẻo đường từ xã Vĩnh Hòa, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị, đến tận thôn Bác Vọng, xã Gio Hải, Quảng Trị. Đường hành quân toàn cát trắng, nắng như đổ lửa, vai áo ai cũng lằn đỏ vì đòn khiêng, chân phồng rộp vì cát nóng. Có những đêm mưa rừng tầm tã, bốn đứa thay nhau gánh vác, người này mệt thì người kia gánh đỡ, vừa đi vừa động viên nhau bằng những câu hò ví dặm quê nhà.
Mão hay ngâm nga mấy câu hát phường vải, giọng khàn khàn mà ấm, làm cả tổ quên hết mệt nhọc. Có bận đói quá, Dũng mò được mấy củ sắn hoang bên đường, bốn anh em chia nhau nướng ăn giữa đêm, cười rúc rích như hồi còn ở làng. Cần thì hay giữ khư khư tấm ảnh gia đình trong túi áo ngực, thỉnh thoảng lấy ra ngắm rồi kể cho chúng tôi nghe về mẹ già, về đứa em gái nhỏ ở quê. Những đêm nằm võng dưới tán rừng, bốn đứa thường thì thầm hẹn nhau, hết chiến tranh sẽ cùng về quê, đứa nào lấy vợ trước phải mời cả bọn đến ăn cỗ cho bằng được. Mão còn đùa, bảo tôi với cậu ấy học chung lớp, sau này về già chắc cũng phải ở gần nhau, chiều chiều rủ nhau ra đồng uống rượu nhắc chuyện xưa.
Nào ngờ, những lời hẹn ấy mãi mãi không thành.
Hôm đó, tổ chúng tôi đang vác bệ súng cối, chuẩn bị hành quân ra một trận địa mới. Trời vừa sáng, sương còn giăng trên đồi cát, thì bất ngờ máy bay Mỹ quần đảo, rồi một loạt bom tọa độ giội thẳng xuống đội hình. Tiếng nổ chát chúa, đất cát bay mù mịt, tôi bị hất văng ra xa, tai ù đặc, không còn nghe thấy gì nữa. Khi tỉnh lại, cảnh tượng trước mắt tôi là mười bốn đồng đội thương vong, người nằm la liệt giữa hố bom khét lẹt mùi thuốc súng. Tôi bò đến gần thì thấy Mão. Cậu ấy nằm đó, thân thể bị mảnh đạn găm khắp người, máu tuôn thành dòng, quần áo đã nát bươm không còn nhận ra hình dạng ban đầu. Tôi hoảng loạn lao đến, định xốc cậu ấy lên vai để chạy, nhưng Mão đưa bàn tay run rẩy ngăn tôi lại. Cậu ấy thều thào, hơi thở đã đứt quãng: "Cậu chạy đi... tôi không xong rồi..." Tôi quỳ xuống, nắm chặt tay bạn, nước mắt giàn giụa, miệng lắp bắp không thành lời, còn định nói với cậu ấy bao nhiêu điều, nhắc lại bao kỷ niệm, nhưng tiếng pháo đợt hai đã bắt đầu rít trên đầu. Đồng đội kéo tay tôi, giục tôi phải chạy ngay kẻo không kịp. Tôi ngoái lại nhìn Mão lần cuối, rồi buộc lòng phải rời đi trong tiếng nổ đì đùng sau lưng. Năm ấy, Mão mới hơn mười tám tuổi.
Sau trận đánh, khi pháo đã ngớt, tôi quay trở lại tìm bạn. Tôi tự tay đào huyệt, đặt Mão nằm xuống mảnh đất cách bờ biển thôn Bác Vọng chừng một cây số, dựng tạm một tấm bia đá, khắc vội dòng chữ "Trần Văn Mão", thì thầm hẹn với cậu ấy ngày hòa bình sẽ trở lại đón bạn về quê. Từ hôm đó, trong lòng tôi chỉ còn một nỗi căm hờn quân giặc Mỹ, tôi mang theo mối thù ấy suốt những năm tháng chiến đấu, quyết tâm sống chết với chiến trường để trả thù cho người bạn thân nhất đời mình.
Rồi chiến tranh vẫn tiếp diễn khốc liệt. Ít lâu sau, đến lượt Phan Đăng Dũng và Nguyễn Hậu Cần cũng ngã xuống, cả hai cùng hy sinh trong một trận bom B52 rải thảm xuống thôn Bích La. Vậy là chỉ trong một thời gian ngắn, ba người bạn thân thiết nhất của tôi đều nằm lại chiến trường, chỉ còn mình tôi may mắn sống sót đi hết cuộc chiến.
Ngày đất nước giải phóng, việc đầu tiên tôi làm là tìm về thôn Bác Vọng, mong tìm lại nấm mộ và tấm bia đá năm xưa để đưa Mão về với quê nhà Thanh Chương. Nhưng vật đổi sao dời, chiến tranh và thời gian đã xóa sạch mọi dấu vết, tôi đứng giữa bãi cát mênh mông mà không còn nhận ra đâu là nơi mình từng chôn cất bạn. Tôi đành lặng lẽ thắp một nén nhang giữa trời, khấn vái vong linh Mão, Dũng, Cần và bao đồng đội đã ngã xuống nơi mảnh đất này”.
Hơn năm mươi năm đã trôi qua, mỗi lần nhớ lại, lòng tôi vẫn quặn thắt như ngày nào. Tôi kể lại câu chuyện này không phải để khơi gợi đau thương, mà muốn các cháu hôm nay hiểu rằng: “Sự bình yên mà thế hệ trẻ đang được hưởng hôm nay, được cắp sách đến trường, được học tập, làm việc, cống hiến cho Tổ quốc, tất cả đều được đánh đổi bằng biết bao xương máu của cha anh đi trước. Có những người bạn của tôi ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ, chưa kịp yêu, chưa kịp sống trọn một đời người, để đổi lấy hòa bình cho hôm nay. Mong các cháu luôn biết trân trọng, biết ơn cuộc sống mình đang có, sống sao cho xứng đáng với sự hy sinh ấy”.



